Bí mật Trung Nam Hải

Tháng Bảy 4, 2011

Thường Mao Trạch Đông đến sàn nhảy và ở đó từ hơn 22giờ đến 1giờ sáng. Các nữ diễn viên trẻ đẹp được cùng nhảy với vị lãnh đạo vĩ đại đều lấy làm vinh dự. Có khi một bản nhạc, Mao Trạch Đông thay đổi 3 cô để nhảy. Ngoài vũ trường các nhân viên văn công khác tự nhiên phải biết phận mình nghiêm chỉnh giữ “kỷ luật cách mạng”.

Kỳ 1: Mao Trạch Đông và con số 8341

Mao Trạch Đông năm 1931

Sau khi Viên Thế Khải chấp chính, để bảo đảm an toàn cho Phủ Tổng thống và để tránh những ánh mắt tò mò từ bên ngoài nhìn vào, do vậy tại Trung Nam Hải đã được xây bức tường cao để ngăn cách. Sau khi làm Tổng thống hơn 3 năm, Viên Thế Khải lại muốn làm Hoàng đế và sau 80 ngày làm vua, ông đã bị đổ. Tháng 6/1916 Lê Nguyên Hồng lên làm Tổng thống, không lâu sau Trương Huân lên và đuổi Lê Nguyên Hồng ra khỏi Trung Nam Hải. Chỉ được nửa năm Trương Huân lại đổ và Phùng Quốc Trương lên thay. Năm 1919, Từ Đông Hải lên làm Tổng thống cũng chỉ được một năm thì đổ, Tào Côn Kế lên thay. Năm 1922, Phùng Ngọc Tường dẫn quân vào Bắc Kinh và giam Tào Côn Kế vào lầu Diên Khánh. Năm 1922 Lê Nguyên Hồng lần thứ 2 làm tổng thống cũng không đầy một năm lại đổ, Đoàn Kỳ Thụy chấp chính và giam tướng quân Phùng Ngọc Tường ở Doanh Đài – Trung Nam Hải. Năm 1927 Trương Tác Lâm, thủ lĩnh phái quân phiệt Đông Bắc tự xưng là Đại Nguyên Soái và Trung Nam Hải trở thành “Đại Soái Phủ”, cùng năm Trung Hoa dân quốc định đô ở Nam Kinh và đổi tên Bắc Kinh thành Bắc Bình.

Năm 1928 Phái Chính phủ của Trung Hoa Dân Quốc đã dẫn đại quân chiếm giữ Bắc Bình và thành lập chính phủ cách mạng quốc dân thành phố Bắc Bình. Năm 1929 tuyên bố Trung Nam Hải là công viên của nhân dân và phá tường để mọi người tham quan. Thế là cả Bắc Hải, Trung Hải và Nam Hải đều trở thành nơi vui chơi, tham quan, nghỉ ngơi của dân chúng. Nhưng công viên Trung Nam Hải chỉ duy trì được vài năm lại bị tướng Hà Ứng Khâm dùng làm “Bắc Bình quân phân hội”. Sau đó không lâu lại bị tướng Lý Tống Nhân dùng làm “Bắc Bình hành dinh”. Sau sự biến “thất thất” (7/7) năm 1937, Bắc Bình rơi vào tay chính quyền ngụy của Nhật, Trung Nam Hải trải qua 8 năm dưới ách đó. Tháng 8/1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện, Bắc Bình trở về tay Trung Hoa dân quốc. Năm sau, Trung Nam Hải biến thành “Bộ Tổng tư lệnh diệt cộng dẹp loạn Hoa Bắc” của tướng Phó Tác Nghĩa. Ngày 30/1/1949, ký kết hiệp định giữa tướng Phó Tác Nghĩa với tướng Diệp Kiếm Anh tuyên bố “Bắc Bình giải phóng hòa bình”. Sau đó chính quyền của Mao Trạch Đông  định đô ở Bắc Bình, hồi phục tên Bắc Bình thành Bắc Kinh. Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc đóng tại Trung Nam Hải. Trung Nam Hải lại trở thành nơi cấm địa đầy quyền lực của chính quyền mới. Ngày 24/3/1949 Mao Trạch Đông cùng Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Nhiệm Bật Thời, Trần Vân, Trương Văn Thiên, Lý Lập Tam, Lý Phú Xuân, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, Vương Giá Tường rời thôn Tây Bá Pha, huyện Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc tiến vào cố đô Bắc Bình. Từ đây đến huyện Trác ngoại ô phía nam Bắc Kinh khoảng 300km.

Trưa hôm đó Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Nhiệm Bật Thời đi ôtô đến sân bay ngoại ô phía tây để tham gia duyệt binh đội quân giải phóng của chiến dịch Thiên Tân, tướng Phó Tác Nghĩa cũng có mặt. Mao Trạch Đông bắt tay và một lần nữa cảm ơn tướng Nghĩa đã giải phóng cố đô bằng phương pháp hòa bình. 22giờ hôm đó, Mao và Lưu Thiếu Kỳ đến Di Hòa Viên, Mao Trạch Đông ngủ ở Cảnh Phúc Các. Một tháng sau Mao Trạch Đông mời Lương Thấu Minh tiên sinh đi chơi Di Hòa Viên và đã ca ngợi Từ Hy Thái Hậu vì bà đã tu tạo Di Hòa Viên. Hôm sau Mao Trạch Đông rời Di Hòa Viên đến ở biệt thự Song Thanh ở dưới chùa Hương Sơn khu công viên Hương Sơn, do đó Trung ương Đảng và hầu hết các vị lãnh đạo đảng và nhà nước cũng đều ở Hương Sơn. Công viên Hương Sơn biến thành khu quân sự cấm.

Từ ngày 31/1/1949, Chu Ân Lai, Lâm Bá Cừ, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vinh Trăn đều thấy rõ Trung Nam Hải là nơi ở của cơ quan đầu não trung ương. Chu Ân Lai đã hạ lệnh cho dã chiến quân Hoa Bắc cử ra một đại đội và vài chục xe vận tải để tiếp quản Trung Nam Hải. Thời kỳ đó Trung Nam Hải có hơn 2.000 phòng và điện Cần Chính – nơi ở của một đại đội bảo vệ của tướng Phó Tác Nghĩa, Mao Trạch Đông cho tước vũ khí của đại đội này và đưa đi “học tập chỉnh biên, cải tạo tư tưởng” ở ngoại ô. Gần 1.000 người làm tổng vệ sinh và tu sửa lại Trung Nam Hải đúng 3 tháng để đón chính quyền mới. Đầu tháng 6, Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh mời Mao Trạch Đông vào ở Trung Nam Hải. Mao từ chối vì không làm vua nên không vào cung và cũng vì việc đó mà cho đến nay còn lưu truyền 3 cách nói khác nhau. Một là, Mao Trạch Đông tuy là tín đồ Mác – Lê, vô thần nhưng am hiểu Kinh Dịch và ham muốn làm đế vương. Khi Mao Trạch Đông ở Hương Sơn có gặp một vị đạo lão đạo thuật cao siêu, ông có hỏi khi nào  vào Trung Nam Hải mới tốt. Đạo lão không nói không mà chỉ viết 2 số 99 (tức ngày 9/9). Mao Trạch Đông lại hỏi: quyền vị của mình giữ được bao lâu? Đạo lão lại viết con số: 8341. Mao Trạch Đông không hiểu nổi các thuật số này, nhưng rất kính trọng Đạo lão. Ngày 9/9/1949 Mao Trạch Đông vào ở Trung Nam Hải và đổi phiên hiệu đội bảo vệ của mình thành Đội 8341 – Trung Nam Hải. Sau khi vào ở Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông chọn một số ngượi  học vấn uyên thâm như Quách Mạt Nhược, Chu Cốc Thành, Phạm Văn Lan để bàn luận về 2 thuật số 99 và 8341. Đối với số 99 có thể hiểu được Cửu – số 9 là số to nhất trong hệ thập phân và vì, gọi đế vương là Cửu Ngũ Chi Tôn, gọi nơi ở của đế vương là Cửu trùng (trong) Cung Khuyết, gọi thiên hạ là Cửu thiên Cửu địa, Cửu châu Phương viên. Đời Chu gọi là Tài Bạch Lưu Thông chi pháp là Cửu Phủ viên (hoàn) Pháp, thời Xuân Thu Tề Hoàn Công có câu “Cửu phẩm chính trung”, báu vật của quốc gia thời cổ đại gọi là Cửu Đỉnh Đại Lữ, các nhạc công thời cổ đại gọi là Cửu cung đại thành, các chữ số thời cổ gọi là Cửu kinh toán thuật, kinh văn thời cổ gọi là Cửu kinh cổ nghĩa, các đạo gia luyện đơn gọi Cửu chuyển Kim đơn tóm lại không ai đoán trúng cả. Mãi đến ngày 9/9/1976, hai thuật số đó mới được giải: Mao Trạch Đông chết ngày 9/9, thọ 83 tuổi (1893-1976); trị vì 41 năm (1935-1976). Mao Trạch Đông chết tại khu Du Vịnh Trì – Trung Nam Hải. Đó là ngẫu nhiên hay thiên định?

Hai là, sau khi Diệp Kiếm Anh báo cáo bằng văn bản về việc mời TƯ đảng vào ở Trung Nam Hải nhưng được mấy hôm không thấy động tĩnh gì thì đích thân đến Hương Sơn để mời Mao Trạch Đông vào ở Trung Nam Hải. – “Tôi không nghe, đây là vấn đề nguyên tắc”? Mao Trạch Đông từ chối. Diệp Kiếm Anh nài nỉ: “Kiếm Anh kiên trì mời anh vào Trung Nam Hải cũng là nguyên tắc, ở đây đến cái tường vây quanh cũng không có”. – “Không nói, không nói nữa”. Mao Trạch Đông lắc đầu và Diệp Kiếm Anh nói dỗi – “Không nói nữa thì không nói nữa”. Chu Ân Lai biết rằng, Mao Trạch Đông rất kị chỗ Hoàng đế đã từng ở, nơi đã từng là chỗ Từ Hy Thái Hậu chấp chính; là chỗ Vua Quang Tự – do muốn duy tân nên đã bị tù, là phủ tổng thống của Viên Thế Khải. Trước khi vào thành, Mao Trạch Đông hiệu triệu toàn đảng xem tập “Giáp thân tam bách niên tế” của Quách Mạt Nhược sách này nói về việc sau khi Lý Tự Thành vào Bắc Kinh rồi kiêu ngạo và thất bại như thế nào, Mao Trạch Đông rất thích cuốn này. Chu Ân Lai mong muốn Mao Trạch Đông vào Trung Nam Hải chủ yếu vì vấn đề an toàn. Chu Đức – Tổng Tư lệnh cũng tán đồng. Thế là thiểu số phục tùng đa số – Mao Trạch Đông phải vào ở Trung Nam Hải.

Ba là, cơ quan trung ương ở Hương Sơn, hàng ngày chỉ có Chu Ân Lai vào thành làm việc, giải quyết vấn đề, chỉ đạo công tác, liên hệ với các bộ phận. Từ khi vào kinh đô Lưu Thiếu Kỳ đi Thiên Tân tham quan, phỏng vấn, thăm hỏi bạn bè. Chu Đức cũng bận tham quan du lịch, phỏng vấn, hội đàm. Nhiệm Bật Thời thì bệnh nặng. Mao Trạch Đông bận tiếp kiến đại biểu các đảng phái, nhân sĩ đồng thời chỉ đạo việc chuẩn bị cho hội nghị trù bị của chính trị hiệp thương. Vậy ở Hương Sơn không thuận tiện, cho nên tháng 6, Mao Trạch Đông quyết định vào thành để làm việc. Mao Trạch Đông ở căn nhà nhỏ tên là Phong Trạch Viên trong Trung Nam Hải. Khi công việc chỉ đạo, chuẩn bị cho hội nghị trù bị đã xong mọi người đề xuất Mao Trạch Đông nên quay về Hương Sơn ở vì máy bay địch quấy nhiễu ở đây không an toàn nhưng Mao Trạch Đông không đồng ý. Trên đây có vẻ mâu thuẫn, nhưng vấn đề ở chỗ con người Mao Trạch Đông khi còn trẻ rất thích Thủy Hử, làm cách mạng lập chí thành nghiệp lớn, lại có tư tưởng làm đế vương. Mùa hè năm 1949, quyền hành thực tế đã vào tay Mao Trạch Đông, lẽ nào lại không chịu nhận. Thực tế tháng 6/1949, Mao Trạch Đông rời Hương Sơn đến ngoại ô phía tây, nhà số 1, Tân Lục Sở, đường Ngọc Tuyền ở ít lâu, đến 9/9/1949 mới vào Trung Nam Hải. Ngự tại Cúc Hương Thư – Phong Trạch Viên – Trung Nam Hải. Người đầu tiên ở đây là Lâm Bá Cừ, ông là “thư ký trưởng” đang dự thảo thành lập “chính phủ nhân dân trung ương” và chuẩn bị “khai quốc đại lễ”. Lâm Bá Cừ người Lâm Lễ, Hồ Nam, sinh năm 1885, năm 1905 vào đồng minh hội của Tôn Trung Sơn ở Nhật Bản. năm 1916 khi Mao Trạch Đông mới là một cậu học trò nghèo của trường “Sa đệ nhất soái tiết” thì Lâm Bá Cừ đã là Bí thư đốc quân và là Cục trưởng Cục Tài chính tỉnh Hồ Nam. Năm 1921 vào Quốc dân Đảng, năm 1922 là tổng vụ Bộ trưởng Quốc dân đảng của Tôn tiên sinh, Lâm Bá Cừ là một nguyên lão của 2 đảng. Sau khi Lâm Bá Cừ ở phòng Cúc Hương Thư. Chu Ân Lai thường lui tới làm việc, nghỉ trưa, dùng bữa ở đây. Tuy tuổi cao hơn Chu Ân Lai nhưng Lâm Bá Cừ chỉ là một vị tướng nên phải nhường chỗ này cho Chu Ân Lai mà đi ở nhà khác. Không lâu, Mao Trạch Đông vào đây họp và cũng rất thích chỗ này, cũng thường nghỉ và dùng bữa ở đây. Đúng là đại thần nhường tể tướng, tể tướng nhường hoàng thượng. Từ bên trong Tân Hoa Môn đến phòng nghỉ của các thủ trưởng Trung ương Đảng trong Đại lễ đường Nhân dân được xây dựng con đường hầm nhỏ, ôtô con đi được. Con đường hầm này chỉ có các vị trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc mới được sử dụng, như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Trần Vân, Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình và một số vệ sĩ đặc biệt.

Mao Trạch Đông thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa

Từ năm 1968 – 1976 Giang Thanh cùng đồng bọn lấy cớ “sửa chữa toàn diện” để cấm cửa công viên Bắc Hải. Suốt 8 năm cho đến khi Mao Trạch Đông qua đời, Giang Thanh bị lật đổ, vào tù công việc sửa chữa toàn diện mới xong. Phần lớn các cung, viện, đình, đường trong Trung Nam Hải đều được xây dựng từ đời Thanh, chủ yếu và nổi tiếng có 8 nơi như: Tiêu Viên, Doanh Đài, Phong Trạch Viên, Tỉnh Cốc, Hải Yến Đường, Hoài Nhân Đường, Tử Quang Các, Du Vịnh Trì. Ngày 31/1/1949 “Hiệp định Bắc Bình giải phóng hòa bình” do Diệp Kiến Anh và Phó Tác Nghĩa ký đã cứu được cố đô nghìn năm lịch sử mới không bị nội chiến tàn phá. Chiều ngày 5/6/1949, Hội nghị Chính trị hiệp thương do Mao Trạch Đông chủ trì được khai mạc tại điện Cần Chính Trung Nam Hải. 14giờ ngày 1/10/1949 cũng tại điện Cần Chính, Mao Trạch Đông lại chủ trì hội nghị lần thứ nhất “Chính phủ nhân dân trung ương” và tuyên bố thành lập “Chính phủ nhân dân trung ương”, Mao Trạch Đông được bầu vào chức vụ Chủ tịch. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Cao Cương, Trương Lan, Lý Tế Thâm, Tống Khánh Linh làm Phó chủ tịch. Chu Ân Lai làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. 14 giờ 50 phút cùng ngày, tất cả đều ra Thiên An Môn và đúng 15giờ hôm đó Mao Trạch Đông chủ trì khai quốc đại lễ. Từ đó Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai luôn họp hành, tiệc tùng, tiếp khách nước ngoài tại điện Cần Chính. Trung Nam Hải dưới thời Mao Trạch Đông là nơi cực lạc của các quần vương, đồng thời lại là chiến trường đấu đá quyết liệt tranh giành quyền lực giữa Mao Trạch Đông với các quần thần. Nó để lại biết bao bi khốc trong ký ức các nguyên lão. Mao ở phòng Cúc Hương thư 18 năm, nơi này có 2 lối ra vào, một gian dành riêng cho những người phục vụ đặc biệt; một dành riêng cho Mao Trạch Đông và Giang Thanh. Bên cạnh có các phòng cơ yếu, vệ sĩ trưởng, chủ nhiệm cách mạng văn hóa – trước đó làm chủ nhiệm văn phòng trung ương – Dương Thượng Côn. Sau khi gia đình Dương dọn đi thì nơi đây để đồ tặng phẩm, bàn bóng bàn. Mao Trạch Đông ở đấy từ tháng 9/1949 đến trung thu năm 1967 thì dọn đến Du Vịnh Trì ở phía tây Trung Hải.

Hàng năm cứ vào tối ngày 26/12, ngày sinh nhật của Mao Trạch Đông thường có mời các đồng sự, bạn bè, nhưng ngày 26/12/1966, Mao Trạch Đông mời các thành viên của Ủy ban Cách mạng văn hoá, các bạn chiến đấu cũ nhưng số các bạn chiến đấu cũ chỉ có Chu Ân Lai tới, còn lại đều là các thành viên của Ủy ban Cách mạng văn hóa. Đến khu vực mới này, ngoài Mao Trạch Đông ra, dần dần có thêm gia đình của Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Lâm Bá Cừ, Bành Đức Hoài, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, Hồ Kiều Mộc. Năm 1960 Xuân Ngẫu Tề được cải tạo thành vũ trường, sân khấu, rạp chiếu phim và phòng ngủ đặc biệt của Mao Trạch Đông. Đêm đêm ca múa đều là những diễn viên trẻ đẹp, tuổi 18-20, được tuyển chọn từ các đoàn văn công. Chu Ân Lai rất ít khi đến đây nhảy, vì đã có sàn nhảy riêng ở Tử  Quang bên bờ Tây Bắc của Trung Hải. Hàng ngày, cứ 19 giờ 30 phút, vợ chồng Chu Đức – Khang Khắc Thanh dắt nhau đến sàn nhảy thì đã có các nữ diễn viên trẻ đẹp đón tiếp, cầm tay Chu Đức đi kiểu “Quân ngũ đại bộ” cho đến khi các em áo thấm mồ hôi. Thực tế thì Chu Đức nhảy cũng được. “Đi đại bộ” là theo lời bác sĩ để rèn luyện thân thể. Khoảng 21giờ Chu Đức đưa vợ về nghỉ, Chu Đức có thói quen ngủ sớm, dậy sớm.

Sau khi Chu Đức rời sàn nhảy thì vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ – Vương Quang Mỹ mới đến nhảy. Lưu Thiếu Kỳ nhảy rất giỏi, nhất là điệu valse nhanh. Bạn nhảy của Lưu Thiếu Kỳ là những cô diễn viên thanh tú, nhẹ nhõm, linh hoạt như bướm bay. Các cô rất thích nhảy với Lưu Thiếu Kỳ, thường là các em chủ động mời trước. Còn bà vợ Lưu thì ngồi ở salon mỉm cười, mắt theo dõi phu quân của mình. Lưu Thiếu Kỳ rất bận, mỗi lần chỉ nhảy khoảng một tiếng đồng hồ. Vương Quang Mỹ, nhảy cũng rất đẹp. Thường thì bản nhạc sau cùng thì hai vợ chồng Lưu mới nhảy với nhau. Khi đó các cô văn công đều chiêm ngưỡng, đồng thời mọi người biết, vợ chồng Lưu chuẩn bị rời sàn nhảy. Còn các vị lãnh đạo xuất thân từ quân đội như Nguyên soái Trần Nghị, Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Thượng tướng Tiêu Hoa, khi nhảy thì ưỡn ngực ra, ghì sát các cô diễn viên trẻ đẹp, mặt chạm cả vào phấn son của người ta, các em không dám nói, không dám cự tuyệt. Vì được tuyển chọn vào Trung Nam Hải để làm bạn nhảy với các vị lãnh đạo quốc gia, là “đi làm nhiệm vụ” cần phải “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị vinh quang đã được Đảng, quân đội giao phó”. Qua tuyển chọn lý lịch chính trị tốt mới được đi làm nhiệm vụ, ai mà chẳng thấy vinh hạnh. Mao Trạch Đông rất ít khi cùng đi nhảy với phu nhân. Giang Thanh cũng có lần đến sàn nhảy ngồi xem, rất ít người dám nhảy với Giang Thanh. Giang Thanh xuất thân từ minh tinh màn bạc, đương nhiên nhảy rất giỏi nhưng tính khí lạ thường. Sau khi Mao Trạch Đông đến sàn nhảy liền ngồi vào chỗ salon giành riêng uống trà nói chuyện, có khi hẹn người đến đây thảo luận, hội báo công tác.

Thường Mao Trạch Đông đến sàn nhảy và ở đó từ hơn 22giờ đến 1giờ sáng. Các nữ diễn viên trẻ đẹp được cùng nhảy với vị lãnh đạo vĩ đại đều lấy làm vinh dự. Có khi một bản nhạc, Mao Trạch Đông thay đổi 3 cô để nhảy. Ngoài vũ trường các nhân viên văn công khác tự nhiên phải biết phận mình nghiêm chỉnh giữ “kỷ luật cách mạng”.

Sóng gió ở Trung Nam Hải

Dưới thời Mao Trạch Đông, trong cuộc đấu đá khốc liệt tranh giành quyền lực, những người đầu tiên bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải và bị tù đày là Cao Cương và Nhiêu Thấu Thạch.

Bí mật Trung Nam Hải (Kỳ 2): Sóng gió ở Trung Nam Hải


Chu Ân Lai

Có một lần, một mảng trần nhà của sàn nhảy tự nhiên rơi xuống chỗ salon giành riêng cho Mao Trạch Đông, gây nên tiếng nổ to như quả lựu đạn nổ. May thay lúc đó ông đang ôm mỹ nữ nhảy. Sau đó Cục cảnh vệ Trung Nam Hải tổng động viên tiến hành rà soát và truy tìm phẩn tử phản cách mạng trong, ngoài Trung Nam Hải mất hơn nửa năm, nhưng kết cục chẳng có tăm hơi gì cả. Sau năm 1949, Hoài Nhân Đường là lễ đường của Trung ương Đảng, Quốc vụ viện. Trong đó có các hội trường to, vừa và nhỏ khác nhau. Tại đây từng có những hội nghị quan trọng như:

Thượng tuần tháng 8/1966, Mao Trạch Đông chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa VIII, thông qua 16 điều “cách mạng văn hóa”, đồng thời chỉ định Lâm Bưu là người kế tiếp mình. Ngày 6/8, Mao Trạch Đông viết báo chữ to “Nã pháo Bộ Tư lệnh”, công nhiên đả kích vào Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ. Bài báo chữ to này dán ở hành lang hội trường Hoài Nhân Đường. Tháng 2/1967, “3 tổng 4 soái” (chỉ 3 Phó thủ tướng và 4 Nguyên soái: Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Đàm Chấn Lâm, Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn) đại náo Hoài Nhân Đường, lên án “Cách mạng văn hóa”, lên án Giang Thanh và các thân tín của bà ta như: Trương Xuân Kiều, Khang Sinh, Trần Bá Đạt. Tiếp đó Chu Ân Lai chủ trì “Hội gặp mặt công tác Trung ương” liền bị Mao Trạch Đông cho là “Nghịch dòng tháng 2”, là phản cách mạng văn hóa và đã cách chức “3 tổng 4 soái”. Tháng 10/1978, tại Hoài Nhân Đường đã tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa XI, tại đây đã hạ bệ Hoa Quốc Phong người kế thừa Mao Trạch Đông, bầu Hồ Diệu Bang làm Chủ tịch Đảng (không lâu đổi là Tổng bí thư), đồng thời khôi phục danh dự cho Lưu Thiếu Kỳ, công nhận Lưu Thiếu Kỳ chết trên cương vị “Chủ tịch nhà nước”. Ngày 16/1/1987, trong “Hội nghị sinh hoạt Bộ Chính trị” các nguyên lão đã hạ bệ Tổng bí thư Hồ Diệu Bang.

Tối 19/5/1989, trong cao trào của học sinh, sinh viên đòi tự do dân chủ, Chủ tịch Dương Thượng Côn và Thủ tướng Lý Bằng đã phải triệu tập đại hội gồm những người đứng đầu Đảng, Chính, Quân tại Hoài Nhân Đường, tuyên bố: Thủ đô giới nghiêm, quân đội vào thành, không lâu sau Bắc Kinh diễn ra vụ “4-6” chấn động toàn cầu – vụ quân đội thẳng tay dẹp đám sinh viên biểu tình đòi lật đổ chính quyền ở Thiên An Môn.

Hải Yến Đường còn gọi là Cư Nhân Đường, có kiến trúc kiểu Tây, làm cho Tây Thái Hậu, là nơi chiêu đãi khách nữ giới. Khi Trương Tác Lâm tự xưng là Đại nguyên soái, có tên là “soái phủ”. Ngày xưa khi Tào Côn Nhiệm là Tổng thống thì làm việc tại đây và cũng bị giam tại đây. Bên cạnh là An Khánh Đường, từng là chỗ ăn, ở của Lâm Bá Cừ; cạnh An Khánh Đường là Vĩnh Phúc Đường, từng là chỗ ở của Bành Đức Hoài; Phúc Lộc Cư là chỗ ở của gia đình Lưu Thiếu Kỳ; bên cạnh là Cúc Hương Thư của Mao Trạch Đông. Tối ngày 22/5/1966, Điền Gia Anh – Thư ký chính trị của Mao Trạch Đông kiêm Phó chủ nhiệm Văn phòng Trung ương đã tự tử ở Hải Yến Đường. Đây là vụ tự sát nổi tiếng trong Trung Nam Hải. Từ năm 1948, Điền Gia Anh là trợ thủ đắc lực, thảo các văn bản cho Mao Trạch Đông. Sau Hội nghị Lư Sơn năm 1959, giữa Mao Trạch Đông và Điền Gia Anh đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, ngăn cách, Điền Gia Anh đã nhiều lần đề nghị được chuyển công tác nhưng không được Mao Trạch Đông chấp thuận vì Điền Gia Anh biết quá nhiều bí mật. Khi cô em nào được “cùng với Mao Trạch Đông” thì Điền Gia Anh làm hồ sơ “kinh phí sinh hoạt hỗ trợ”, đồng thời liên hệ từ việc giải quyết công việc, nâng lương cho đến cả vấn đề vào đoàn, vào Đảng, đề bạt. Đêm hôm Điền Gia Anh tự sát, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng kiêm Đội trưởng Đội Bảo vệ Uông Đông Hưng đã cử người đến nhà Điền Gia Anh tuyên bố đình chỉ công tác và lục soát nhà, lấy đi các văn kiện giấy tờ và tuyên bố cả gia đình Điền Gia Anh từ mai “ra khỏi Trung Nam Hải”. Nghe nói trước hôm Điền Gia Anh tự tử có nói với vợ rằng: “Từ nay sự trưởng thành của các con cần phải dựa vào chính bản thân chúng”. Vợ Điền cảm thấy thà để Điền Gia Anh tự giải thoát còn hơn.

Có nghi vấn cho rằng, không phải Điền Gia Anh tự tử mà là bị Mao Trạch Đông giết, vì Điền Gia Anh biết quá nhiều bí mật của Mao Trạch Đông, vấn đề này lịch sử sẽ minh xét. Chỉ biết rằng: Làm bạn với quâân vương như làm bạn với hổ; biết “bí mật” nhiều quá khó thoát thân vì họa. Tối nào cũng có một số vũ nữ được lựa chọn ở văn công quân đội đến cùng Mao Trạch Đông bơi, nhảy, vui chơi. Năm 1958, đoàn văn công Chí nguyện quân từ Triều Tiên về nước, Chu Ân Lai đã đưa họ vào Trung Nam Hải để phục vụ Mao Trạch Đông và đổi tên thành “Đoàn ca múa Trung Nam Hải”. Bành Đức Hoài thấy vậy rất lấy làm đau lòng, liền tìm gặp Mao Trạch Đông hỏi: “Chủ tịch, lẽ nào người lại muốn có hậu cung?” Sau đó Bành Đức Hoài lấy cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Chí nguyện quân, nhân dân Trung Quốc giải thể “Đoàn ca múa Trung Nam Hải”. Do đó Bành Đức Hoài đã bị Mao Trạch Đông hạ bệ tại Hội nghị Lư Sơn năm 1959. Năm 1971, Mao Trạch Đông vạch kế hoạch thanh trừng “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu” tại Du Vịnh Trì. Đầu năm 1972, Mao Trạch Đông bị trúng gió tại bể bơi. Cuối tháng 2, Mao Trạch Đông lần đầu tiên tiếp Tổng thống Mỹ Ních-Xơn. Không lâu sau lại tiếp Thủ tướng Nhật. Mao Trạch Đông còn phê chuẩn khôi phục công tác cho Đặng Tiểu Bình “bảo đảm vĩnh viễn không lật đổ”. Năm 1973, Mao Trạch Đông bị đục thủy tinh thể, bác sĩ khuyên cần phải phẫu thuật, nhưng Mao Trạch Đông cự tuyệt.

Bè lũ bốn tên – Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Giang Thanh – tại tòa

Mùa hè năm 1974, Mao Trạch Đông đi Vũ Hán, sau đó về quê Hồ Nam, đến tháng 5/1975 mới quay về Bắc Kinh. Cùng tháng đó Mao Trạch Đông gặp gỡ nữ diễn viên đoàn văn công không quân có cô Mạnh Cẩm Vân người Hồ Bắc. Mạnh Cẩm Vân trở thành hộ lý sau cùng của Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông gọi Mạnh Cẩm Vân là “Mạnh phu tử”. Mao Trạch Đông dùng thơ của Lý Bạch nói với Mạnh Cẩm Vân: “Ngô ái Mạnh phu tử, phong lưu thiên hạ văn”. Mạnh Cẩm Vân động viên Mao Trạch Đông: “Chủ tịch, người không muốn gặp mặt em sao? Vậy thì hãy phẫu thuật mắt đi mới nhìn rõ em chứ!”. Để nhìn rõ mặt người đẹp, Mao Trạch Đông mới đồng ý để phẫu thuật mắt mình. Cuối năm 1975 đầu 1976, Mao Trạch Đông lại phát động Cuộc vận động chính trị cuối cùng đời mình – chống hữu khuynh và đánh đuổi Đặng Tiểu Bình ra khỏi vũ đài quyền lực lần thứ 2. Ngày 27/5/1976, Mao Trạch Đông tiếp kiến Tổng thống Pakistan. Đây là lần tiếp khách nước ngoài cuối cùng trong đời Mao Trạch Đông. Đầu mùa hè, Mao Trạch Đông có một đề xuất cuối cùng rằng: Mao Trạch Đông là người phương Nam, muốn quay về phương Nam, về quê hương Hồ Nam. Nhưng lúc này Mao Trạch Đông đã kiệt sức, mất khả năng nói và cử động, tổ bác sĩ cũng không đồng ý để Mao Trạch Đông rời Trung Nam Hải, cho đến sáng sớm ngày 9/9/1976, Mao Trạch Đông từ trần tại đây. Trong số những người đã từng ở Trung Nam Hải, duy chỉ có một mình Chu Ân Lai là không bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải, gia đình Chu Ân Lai ở tại Tây Hoa Sảnh đến ngày 7/1/1976, Chu Ân Lai qua đời. Sau khi Chu Ân Lai qua đời, vợ ông – bà Đặng Dĩnh Siêu vẫn ở lại Tây Hoa Sảnh và chết tại đây vào năm 1990.

Dưới thời Mao Trạch Đông, trong cuộc đấu đá khốc liệt tranh giành quyền lực, những người đầu tiên bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải và bị tù đày là Cao Cương và Nhiêu Thấu Thạch. Hai gia đình này ở Trung Nam Hải chưa đầy 3 năm. Người thứ 3 là Nguyên soái Bành Đức Hoài. Đó là vào mùa Thu năm 1959, sau hội nghị Lư Sơn, Bành Đức Hoài bị Mao Trạch Đông buộc tội là hữu khuynh cầm đầu “Tập đoàn phản Đảng”, cách chức Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương và Bộ trưởng Quốc phòng. Bành Đức Hoài bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải đến ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh, cuốc đất trồng rau. Cuối tháng 9/1965, ông lại bị Mao Trạch Đông đầy đi Tứ Xuyên, được một năm lại bị Hồng vệ binh bắt về Bắc Kinh để đấu tố rồi giam ở nhà tù Tần Thành cho đến năm 1974 thì qua đời. Tháng 9/1962, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Tập Trọng Huân bị Mao Trạch Đông ghép tội phản Đảng. Nguyên Tập Trọng Huân là Chính ủy dã chiến quân I, bạn thân của Bành Đức Hoài, sau đó cả nhà Tập Trọng Huân cũng bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải. Đầu tháng 1/1966, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Dương Thượng Côn bị Mao Trạch Đông cách chức Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương và đuổi ra khỏi Trung Nam Hải. Nhờ có sự che chở của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình nên Dương Thượng Côn mới không bị bắt mà được cử đi công tác ở Quảng Đông (nhưng chưa đi). Ngày 16/5/1966, Mao Trạch Đông bỏ tù Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn vào giam tại Tần Thành vì 4 người này là “Tập đoàn âm mưu phản cách mạng” và đuổi gia đình Lục Định Nhất ra khỏi Trung Nam Hải.

Ngày 21/7/1966, nhân dịp cải tổ thị ủy Bắc Kinh và cải tổ Cơ quan Quốc vụ viện, Mao Trạch Đông công nhiên hiệu triệu Hồng vệ binh bao vây Trung Nam Hải, bao vây Quốc vụ viện. Mao Trạch Đông nói: “Tân Hoa xã Nam Kinh bị bao vây, tôi thấy có thể bao vây ba ngày không ra báo thì có gì là ghê gớm? Anh không cách mạng thì cắt đầu anh đi. Tại sao không cho phép bao vây tỉnh, thị ủy, tòa báo, quốc vụ viện, sau khi tổ làm việc rút lui thì có một số cần phải khôi phục thì khôi phục chứ sao. Chúng ta có những vị bộ trưởng như vậy đáng tin cậy sao?”. Ai cũng biết Quốc vụ viện ở trong Trung Nam Hải. Mao Trạch Đông hiệu triệu phái tạo phản, Hồng vệ binh bao vây Quốc vụ viện tức là bao vây Trung Nam Hải. Căn cứ “chỉ thị tối cao” của Mao Trạch Đông thì từ tháng 1/1967 và dưới sự chỉ giáo của Giang Thanh và các thành viên Trung ương cách mạng văn hóa, Hồng vệ binh có mặt đầy đường phố Bắc Kinh. Có lần vây ráp lớn, có tới vài chục vạn người, hạ doanh trại phía ngoài tường vây quanh Trung Nam Hải, tổ chức thành các tổ đấu tố Lưu Thiếu Kỳ, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình và Chu Đức,  hàng ngày loa phóng thanh cực lớn từ 4 phía chĩa vào Trung Nam Hải, đồng thời các cổng ra vào đều có Hồng vệ binh kiểm soát, nếu phát hiện các vị cần đấu tố liền bắt ngay, giao nộp “Quần chúng chuyên chính”.

Để phối hợp hành động cách mạng với phía ngoài tường, vợ chồng Mao Trạch Đông chỉ thị tất cả mọi người ở trong Trung Nam Hải phải thành lập các “đội quân tạo phản Trung Nam Hải”. 3 gia đình Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Đào Chú là đối tượng chính để đấu tố, ngoài việc đấu tố ra, Lưu Thiếu Kỳ và Đào Chú còn bị đánh đập. Đồng thời với việc đó là việc dán biểu ngữ, ra báo chữ to, uy hiếp đối với Chu Đức – Chủ tịch Quốc hội; Đổng Tất Vũ – Phó chủ tịch nước; Trần Vân – Thường vụ Bộ chính trị, Phó thủ tướng; Trần Nghị – Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Đàm Chấn Lâm – Phó thủ tướng; Diệp Kiếm Anh – Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương; Từ Hướng Tiền – Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương; Lý Tiên Niệm – Phó thủ tướng Báo chữ to viết: Chu Ân Lai là “phản bội, phái 2 mặt”. Sau việc đó, Mao Trạch Đông lại ra mặt “vỗ về” họ, như gọi Chu Đức “vẫn là Hồng tư lệnh, không phải Hắc tư lệnh”.

Ngày 25/8/1966, lần đầu Nguyên soái Hạ Long, bạn thân tín của Chu Ân Lai bị bắt, được Chu Ân Lai cứu, nhưng đến tháng 2/1967, lại bị bắt lần thứ 2 và đày đi Tây Sơn cho đến khi qua đời tại đó. Mùa Thu năm 1967, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu tuyên bố Trung Nam Hải thực hiện chế độ quân quản, đội quân quản này đều là thân thích của Lâm Bưu lấy từ quân khu Quảng Châu lên, của Thượng tướng Hoàng Vĩnh Thắng. Ngày 17/10/1969, Lâm Bưu công bố diễn tập quân sự trong cả nước “Hiệu lệnh số 1 chuẩn bị chiến đấu của Phó chủ tịch Lâm Bưu”, “nhân viên di tản, chuẩn bị chiến tranh” và đã bí mật đưa Lưu Thiếu Kỳ đến Khai Phong, Hà Nam và ông đã chết tại đây sau một thời gian ngắn. Đặng Tiểu Bình bị đưa tới ngoại ô Nam Xương, Giang Tây; Đào Chú bị đưa tới ngoại ô Hợp Phì, An Huy và ông đã chết tại đây; Chu Đức bị đưa tới Quảng Đông; Trần Nghị bị đưa tới Hợp Phì, An Huy; Trương Văn Thiên bị đưa tới Vô Tích, Giang Tô; Đàm Chấn Lâm bị đưa tới Quế Lâm, Quảng Tây; Trần Vân bị đưa tới Cán Châu, Giang Tây; Diệp Kiếm Anh bị đưa tới Tương Đàm, Hồ Nam.

Sau đó không lâu, 2 tập đoàn Mao Trạch Đông và Lâm Bưu bắt đầu tranh giành quyền lực. Để tăng thêm thế lực cho mình, Mao Trạch Đông đã cho phép Chu Đức, Trần Vân, Trần Nghị, Đổng Tất Vũ, Diệp Kiếm Anh quay về Bắc Kinh, nhưng họ không chịu vào ở Trung Nam Hải, Chu Đức, Đổng Tất Vũ về ở phố (đường) Vạn Thọ, Trần Nghị ở Phong Đài, Nam Giao, Diệp Kiếm Anh ở Tây Sơn 3 năm sau Đặng Tiểu Bình mới được tự do quay về Bắc Kinh và cũng không ở trong Trung Nam Hải, Đặng Tiểu Bình ở phố Cảnh Sơn Đông. Trung Nam Hải bị hàng chục vạn Hồng vệ binh bao vây ngày đêm, hàng ngày, Mao Trạch Đông luôn nghe thấy họ gào thét, hô khẩu hiệu, Mao Trạch Đông quản thúc Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Đào Chú ở nhà, không bỏ tù. Trong Trung Nam Hải, người bị đấu thảm hại nhất là Lưu Thiếu Kỳ, người bị chịu cực nhọc và vất vả nhất là Chu Ân Lai được mệnh danh là “Đội trưởng Đội cứu hỏa Trung ương”. Giang Thanh đứng đằng sau chỉ huy Hồng vệ binh “đấu tố không chán mồm, đánh đấm không chán tay”. Sống trong Trung Nam Hải chỉ có một mình Mao Trạch Đông là tồn tại còn tất cả đều bị đuổi ra ngoài, đó là Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Đào Chú. Còn ở Điếu Ngư Đài, thời kỳ cách mạng văn hóa có: Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ

Trong tất cả các cửa ra vào Trung Nam Hải đều bị Hồng vệ binh tràn vào, duy chỉ có 2 cửa là không được phép, đó là Tân Hoa Môn – Nam Đại Môn Trung Nam Hải, vì Tân Hoa Môn là Nghị Môn, trong cửa là Hồ Nam Hải và một con đường ngầm tuyệt mật thông sang Đại lễ đường nhân dân và cửa số 81 đường Nam Trường đoạn phía nam Đông Thành – Trung Nam Hải, vì trong cửa là lễ đường của Cục Cảnh vệ Trung ương do Uông Đông Hưng chỉ huy, nơi đây rất gần với phòng Cúc Hương Thư trong Phong Trạch Viên của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông chỉ hiệu triệu Hồng vệ binh bao vây Trung Nam Hải. Còn tiến vào Trung Nam Hải thì Mao Trạch Đông vẫn do dự. Giang Thanh thì muốn các “tiểu tướng” tiến vào Trung Nam Hải để bắt tất cả “cánh già” ra giao cho quần chúng đấu tố, bỏ tù, chuyên chính. Đánh đổ hết những cán bộ cách mạng lão thành, thì cách mạng văn hóa mới thắng lợi triệt để, nếu không sẽ có hậu họa. Chu Ân Lai đã lợi dụng do dự này của Mao Trạch Đông để ra lệnh cho Đội 8341 tử thủ Trung Nam Hải, bắn bỏ bất kể ai nếu dám xông vào.

Từ tháng 1 đến 20/7/1967, Trung Nam Hải bị Hồng vệ binh bao vây. Cho đến 20/7/1967, xảy ra sự kiện kinh thiên động địa “Vũ Hán binh biến”, Mao Trạch Đông cũng sợ sẽ bị rơi vào tay quân đội, nên Mao Trạch Đông đã hạ lệnh bãi bỏ bao vây Trung Nam Hải và Đại lễ đường Nhân dân. Mùa hè năm 1968, trong cuộc khủng bố màu đỏ ở Trung Nam Hải còn có chuyện tử vong li kỳ, đó là Thứ trưởng Bộ Công an Lý Chấn chịu trách nhiệm bảo vệ Bộ Chính trị đã bị hãm tử trong đường hầm từ Trung Nam Hải đến Đại lễ đường Nhân dân.

 

Mao Trạch Đông – Luận công và tội

Trung Nam Hải kiểm soát đại lục, Quân ủy Trung ương và Đội Cảnh vệ kiểm soát Trung Nam Hải. Chính vì vậy, quyền lực cao nhất không nằm trong tay Chủ tịch Đảng, Tổng bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng mà nằm trong tay Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Bí mật Trung Nam Hải (Kỳ 3): Mao Trạch Đông – Luận công và tội

Tranh cổ động thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa

 

Trung Nam Hải kiểm soát đại lục, Quân ủy Trung ương và Đội Cảnh vệ kiểm soát Trung Nam Hải. Chính vì vậy, quyền lực cao nhất không nằm trong tay Chủ tịch Đảng, Tổng bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng mà nằm trong tay Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Mỗi khi có “tranh chấp quyền lực”, Chủ tịch Quân ủy Trung ương kêu bắt ai thì Đội Cảnh vệ bắt người đó và điều này đã giải thích rằng, tại sao Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình không làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà chỉ giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Những người đã chết sau khi bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải có: Cao Cương, Nhiêu Thấu Trạch, Lưu Thiếu Kỳ, Đào Chú, Bành Đức Hoài, Trương Văn Thiên, Lý Lập Tam, Điền Gia Anh. Những người vẫn còn sống sót trở về có Chu Đức, Đặng Tiểu Bình, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn, Tập Trọng Huân, Hồ Kiều Mậu. Số này sau khi về không trở lại Trung Nam Hải. Đặc biệt chỉ có 2 người vẫn trở lại Trung Nam Hải ở là Trần Vân và Lý Tiên Niệm. Trần Vân trước đây là công nhân in ấn tại Thượng Hải, còn Lý Tiên Niệm là thợ mộc ở Hoàng An – Hồ Bắc. Có 3 người được Mao Trạch Đông mời vào Trung Nam Hải ở nhưng đều ở Điếu Ngư Đài là Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên. Cả 3 người này đều từ Thượng Hải đến và họ ở Điếu Ngư Đài đến tận thời kỳ cách mạng văn hóa. Lâm Bưu không ở trong Trung Nam Hải, Lâm Bưu cũng có ý định vào ở, nhưng chưa kịp vào thì đã cùng cả gia đình chạy trốn trên chiếc máy bay và bị nạn rơi xuống sa mạc ngoại Mông.

Khang Sinh, trùm tình báo, trùm sát thủ chính trị, cũng không ở trong Trung Nam Hải. Mọi người nói Khang Sinh “miệng nam mô, bụng bồ dao găm”, Khang Sinh là thân tín của Mao Trạch Đông. Ngoài ra còn có Uông Đông Hưng, vệ sĩ đặc biệt của Mao Trạch Đông, chỉ có một mình Uông Đông Hưng là được phép mang súng bên mình, Mao Trạch Đông muốn bắt ai, thả ai đều do Uông Đông Hưng trực tiếp đem lính đi thực hiện. Sau khi Lâm Bưu chết, Mao Trạch Đông đã hạ lệnh cho Uông Đông Hưng bắt 3 tướng Hoàng Vĩnh Thắng, Lý Tác Bằng và Khâu Hội Tác. Sau khi Mao Trạch Đông chết 27 ngày, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh phát động “cung biến” cũng tranh thủ, thuyết phục Uông Đông Hưng đi bắt “bè lũ 4 tên” do vợ Mao Trạch Đông cầm đầu.

Năm 1979, sau khi Đặng Tiểu Bình lên chấp chính, ông đã mở “Đại hội truy điệu” cho các nguyên lão bị Mao Trạch Đông bức tử như: Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Đào Chú, Hạ Long. Thân nhân của các nguyên lão đã cự tuyệt vòng hoa của Uông Đông Hưng và không cho y tham dự “Đại hội truy điệu”. Họ đều không quên rằng, chính Uông Đông Hưng trước đây là người đã đem lính đến nhà họ, bắt người thân của họ ra đi! Năm 1980, Uông Đông Hưng bị đuổi ra khỏi Trung Nam Hải, mất hết quyền thế. Trước khi chết, Mao Trạch Đông chỉ định người tiếp sau là Hoa Quốc Phong. Sau khi là nhân vật số một của Đảng, Chính, Quân, sâu sắc biết được lợi hại của Trung Nam Hải, nên không vào ở đó. Hoa Quốc Phong ở Tây Thành “Quan Viên”, đây là nơi khi chấp chính Giang Thanh đã ở, rộng 160.000m2 và được gọi là Tiểu Trung Nam Hải. Hoa Quốc Phong ở đây chỉ được hai năm thì bị ra khỏi vũ đài quyền lực. Sau này “Quan Viên” đổi thành “Trung tâm vui chơi của thiếu nhi”.

Sau Hoa Quốc Phong là Hồ Diệu Bang làm Chủ tịch, sau đó đổi là Tổng bí thư và giữ chức đó 7 năm. Hồ Diệu Bang không ở trong Trung Nam Hải mà ở Đại lộ Bắc Trường – Hồ Diệu Bang nói với gia đình dọn vào Trung Nam Hải ở thì dễ, nhưng dọn ra thì khó! Gia đình chúng ta không vào, để đỡ ngày mai phiền não. Ngày 16/1/1987, trong cuộc “sinh hoạt Bộ Chính trị” mở rộng, Hồ Diệu Bang bị các nguyên lão hạ bệ. Tháng 9/1980, khi Triệu Tử Dương là Thủ tướng vì không biết “nước biển” nông sâu ra sao nên đã vào ở trong Trung Nam Hải. Khi biết được mới hối hận và nghĩ rằng, Hồ Diệu Bang ở ngoài Trung Nam Hải là thượng sách. Mùa Xuân năm 1989, Hồ Diệu Bang qua đời, tiếp đến là sự kiện Thiên An Môn kinh thiên động địa, đó là phong trào đòi dân chủ của học sinh, sinh viên và nhân dân. Vì Triệu Tử Dương phản đối đại quân tiến vào thành trấn áp phong trào nên bị khép vào “Tội phản Đảng”, bị cách chức, đuổi ra khỏi Trung Nam Hải…

Sau Hội nghị toàn thể TƯ 3, khóa 11, Đảng Cộng sản Trung Quốc, sự sùng bái cá nhân đã bị đánh đổ, mọi người đã nhận ra rằng, Mao Chủ tịch cũng như những người bình thường khác, không phải là thánh nên cũng có sai lầm. Nhưng Mao Chủ tịch đã phạm những sai lầm gì? Sai tới đâu? Ảnh hưởng của nó ra sao…? Vẫn là những vấn đề gây nhiều tranh cãi, chưa đi tới thống nhất. Có người chưa từ bỏ được thần tượng Mao Trạch Đông, không chấp nhận những gì là sự thật về “vị thánh của mình”. Có người lại cho rằng, mọi hậu quả đã xảy ra đều do một mình Mao Trạch Đông gây nên. Cả hai thái độ này đều không thích hợp cho những đánh giá một cách chính xác về con người Mao Trạch Đông. Tháng 11/1979, dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình và Bộ Chính trị, Ban Bí thư TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bắt tay vào việc soạn thảo: “Những quyết nghị có liên quan tới một số vấn đề lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khi thành lập nước tới nay” (gọi tắt là “Quyết nghị”). Tổ soạn thảo do Hồ Kiều Mộc phụ trách. Đặng Tiểu Bình rất coi trọng lần soạn thảo này. Ông đã đích thân chỉ đạo góp ý kiến tới 16, 17 lần.

Tháng 3/1980, tổ soạn thảo văn kiện đã nêu ra những ý kiến sơ bộ. Ngày 19/3/1980, Đặng Tiểu Bình đã nêu 3 ý kiến mang tính chỉ đạo đối với những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, yêu cầu cũng như cách viết: Thứ nhất, xác lập vai trò lịch sử của đồng chí Mao Trạch Đông, kiên trì và phát triển tư tưởng của Mao Trạch Đông. Đây là điều quan trọng nhất. Thứ hai, phải tiến hành phân tích một cách thực sự cầu thị đối với những sự kiện trọng đại của đất nước trong suốt 30 năm kể từ khi thành lập nước đến nay, vấn đề nào là chính xác, là sai lầm phải được làm rõ, kể cả việc đánh giá một cách nghiêm túc, cẩn thận những sai, đúng của một số đồng chí chịu trách nhiệm khi đó. Thứ ba, thông qua những quyết nghị này để làm tổng kết mang tính căn bản. Việc tổng kết không cần quá chi tiết, nhưng cũng không thể làm qua loa đại khái. Tổng kết những gì đã qua sẽ có tác dụng đoàn kết mọi người đồng tâm nhất trí tiến lên phía trước.

Ngày 1/4/1980, Đặng Tiểu Bình góp ý chỉnh lý lại bản dự thảo. Ông còn nêu những ý tưởng của mình đối với lịch sử 17 năm 1949-1966 (từ khi thành lập nước tới “Đại cách mạng văn hóa”). Ngày 27/6/1980, Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho ban soạn thảo “Quyết nghị”: Trọng tâm tư tưởng của Mao Chủ tịch là vấn đề gì? Mặt nào là chuẩn xác? Sai lầm cần phải phê bình, nhưng phải thỏa đáng. Nếu chỉ nói sai lầm cá nhân của Mao Trạch Đông sẽ không giải quyết được vấn đề, quan trọng nhất vẫn là vấn đề chế độ. Từ tháng 10/1980, hơn 4.000 cán bộ lãnh đạo cao cấp đã tiến hành thảo luận trong 20 ngày, có hơn 50 đại biểu phát biểu ý kiến góp ý cho bản dự thảo “Quyết nghị”. Tại cuộc thảo luận mọi người đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình, của đơn vị mình… trong đó nhiều ý kiến quý giá như: Cần phải bổ sung thêm những vấn đề lịch sử sau khi đã đập tan được “bè lũ 4 tên”. Nên viết ngắn lại, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, không đi lan man. Nhưng cũng có ý kiến (chưa đúng đắn) cho rằng: Không nên viết vào dự thảo những vấn đề tư tưởng của Mao Trạch Đông. Những sai lầm trong “Đại nhảy vọt”, “Đại Cách mạng Văn hóa” còn nghiêm trọng hơn cả những việc cần giải quyết trong cuộc đấu tranh giai cấp. Nói cho cùng thì những sai lầm trong “Đại Cách mạng Văn hóa” bắt nguồn từ bản chất chưa tốt của Mao Trạch Đông. Thời kỳ trước, Mao Trạch Đông còn là người theo chủ nghĩa Mác, là người của chủ nghĩa Cộng sản, còn về sau thì Mao không phải là người theo chủ nghĩa Mác, không phải là người của chủ nghĩa Cộng sản. Tất cả những sai lầm trước và trong thời kỳ “Đại Cách mạng Văn hóa” đều do một mình Mao Trạch Đông đảm trách.

Chính vì có nhiều ý kiến khác nhau nên ngày 25/10/1980, Đặng Tiểu Bình đã có cuộc gặp gỡ với các đồng chí phụ trách TƯ. Ông nêu một số kiến nghị: Nếu không nói những vấn đề tư tưởng của Mao Trạch Đông thì sẽ không chính xác, thỏa đáng trong việc luận bàn giữa “công và sai lầm” của Mao Trạch Đông, thậm chí nhiều cán bộ, nông dân, trí thức… sẽ không thỏa mãn. Ngọn cờ mà Mao Trạch Đông đã dựng lên không thể bị “đốn ngã”. Ngọn cờ này bị đổ tức là trên thực tế phủ định tất cả quá trình lịch sử mà Đảng ta đã xây đắp nên. Do vậy trong bản dự thảo phải có phần này. Điều này không chỉ đơn thuần là vấn đề lý luận mà là vấn đề chính trị rất lớn, cả trong nước cũng như trên trường quốc tế. Nếu như chúng ta không viết vấn đề này hoặc viết không tốt thì chi bằng đừng viết. Chúng ta không viết hoặc không kiên trì tư tưởng của Mao Trạch Đông là chúng ta đã phạm một sai lầm lớn mang tính lịch sử. Chúng ta phải phê bình những sai lầm của Mao Trạch Đông, nhưng nhất định phải thực sự cầu thị, phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng trên mọi góc cạnh của vấn đề, không thể quy mọi tội lỗi cho một người. Mao Trạch Đông vẫn là lãnh tụ của Đảng chúng ta, nếu chúng ta viết quá đi những gì Mao Trạch Đông đã phạm phải tức là chúng ta đã phỉ báng đồng chí mình, bôi nhọ Đảng mình, bôi nhọ quốc gia mình và cũng quay lưng lại với chính sự thật của lịch sử.

Tháng 11/1980, Hoàng Khắc Thành đã phát biểu trong buổi viết dự thảo “Quyết nghị”. Là một cán bộ lão thành cách mạng, đã từng chịu nhiều oan trái suốt từ năm 1959 cho tới khi được minh oan, đã bị Mao Chủ tịch phê bình, phán xử một cách oan ức tại Hội nghị “Lư Sơn”… nhưng ông vẫn khẳng định những công lao to lớn trong lịch sử của Mao Trạch Đông. Ông nói: “Nếu đổ tất cả trách nhiệm cho Mao Trạch Đông thì chúng ta đã làm một việc trái với sự thật của lịch sử. Tôi rất hiểu tâm tư của những đồng chí đã từng bị oan trái vì tôi cũng là một trong số họ, nhưng chúng ta không nên phát biểu một cách cực đoan vô trách nhiệm. Chúng ta không thể lồng tình cảm cá nhân vào chuyện này được mà phải có cái nhìn thực sự cầu thị”. Tháng 3-1981, Đặng Tiểu Bình đề nghị thống nhất lại những phần đã soạn thảo: Mọi người đều nhất trí với những thành tích 7 năm từ 1949-1956. Thời kỳ từ 1956-1966 cần khẳng định nói chung là tốt, về cơ bản đất nước đã phát triển một cách bình thường, giữa thời kỳ có một số chỗ “khúc khuỷu, sai lầm” nhưng nhìn chung thành tích là chủ yếu. Đối với thời kỳ “Đại Cách mạng Văn hoá” cần viết một cách khái quát, những hậu quả của thời kỳ này còn rất nặng nề, thậm chí còn rơi rớt tới tận hôm nay.

Hồ Diệu Bang bổ sung: “Sau khi gửi bản thảo tới các đồng chí có trách nhiệm, chúng ta cần lắng nghe ý kiến đóng góp của các đồng chí lão thành cách mạng, của các chính trị gia để hoàn chỉnh bản dự thảo này”. Ý kiến này của Hồ Diệu Bang được Đặng Tiểu Bình hoan nghênh, tán thành. Ngày 24/3/1981, Trần Vân góp hai ý kiến đối với bản dự thảo và ý kiến của ông đã được Đặng Tiểu Bình rất coi trọng. Sau hai ngày, tức ngày 26/3/1981, Đặng Tiểu Bình đã gửi những lời góp ý này tới tổ soạn thảo: Cần có một lời dẫn, nói về quá trình lịch sử của Đảng trước giải phóng, viết về quá trình phát triển trong 60 năm qua của Đảng. Có viết như vậy thì mới thấy hết được những công lao, thành tích của Mao Trạch Đông, xác lập được vai trò lịch sử của Mao Trạch Đông, mới có căn cứ để kiên trì và phát triển tư tưởng Mao Trạch Đông. Kiến nghị với TƯ cần tổ chức, coi trọng việc học tập những tác phẩm mang tính triết học của Mao Trạch Đông. Cuối tháng 3-1981, Trần Vân còn nêu 4 vấn đề cần chú ý trong quá trình soạn dự thảo: Cần viết một cách chính xác những sai lầm của Đảng trong 32 năm qua, cần phải trung thực với thực tế. Kiến nghị đưa thêm một số tình hình của Trung Quốc 28 năm trước khi thành lập nước. Phải khẳng định những công lao mang tính lịch sử của Mao Trạch Đông. Cần đưa những tư liệu nói về sự giúp đỡ quốc tế đối với nước ta. Ngày 7/4/1981, Đặng Tiểu Bình lại đưa ra một số cách nhìn nhận về những vấn đề trong thời kỳ “Đại Cách mạng Văn hóa”: Cần xác định tính hợp pháp của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9, của Hội nghị toàn thể TƯ 12, khóa 8. Trong thời kỳ “Đại Cách mạng Văn hoá” Đảng của chúng ta vẫn tồn tại, chúng ta đã giành được những thành công lớn trong công tác đối ngoại. Tháng 5/1981, Bộ Chính trị lại triệu tập một cuộc thảo luận với sự tham gia của hơn 40 đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, thảo luận trong 12 ngày để bàn một số vấn đề xoay quanh “Quyết nghị”. Ngày 19/5/1991, Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị: “Chúng ta cần nhanh chóng hoàn tất bản dự thảo, nếu để lâu sẽ không có lợi. Để có thể sớm kết thúc, chỉ có cách triệu tập hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị, hơn 70 cán bộ lãnh đạo cần tập trung thời gian, sức lực, mỗi người cố gắng một chút để có thể đưa bản thảo này ra trình tại Hội nghị toàn thể TƯ 6 và sẽ cho đăng trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

Bộ Chính trị đã căn cứ theo yêu cầu trên của Đặng Tiểu Bình, tiến hành triệu tập hơn 70 đồng chí lãnh đạo các ban, ngành, ngoài ra còn trưng cầu ý kiến của 130 đại biểu của các đảng dân chủ khác nhằm hoàn tất bản dự thảo. Tháng 6-1981, Hội nghị toàn thể TƯ 6, khóa 11 (hội nghị trù bị) đã tiến hành thảo luận một cách sôi nổi, nghiêm túc bản “Quyết nghị”. Đặng Tiểu Bình đã phát biểu ý kiến: “Chúng ta đã hoàn thành bản “Quyết nghị” một cách hoàn hảo, nhất là phần phân tích những vấn đề xoay quanh việc đánh giá đồng chí Mao Trạch Đông, nhưng có chỗ nói còn hơi quá lời, nên sửa chữa đôi chút. Những phần thuộc về trách nhiệm, đương nhiên trách nhiệm chính vẫn là của Mao Trạch Đông nhưng cũng không thể bỏ qua trách nhiệm của tập thể ban lãnh đạo”; “Về những vấn đề nảy sinh trong 2 năm sau khi đập tan “bè lũ 4 tên” chúng ta cần nhắc tới những sai lầm của Hoa Quốc Phong, điều này có lợi cho toàn Đảng, cho lợi ích của toàn dân và cho cả bản thân đồng chí Hoa Quốc Phong”. Sau hơn một năm chuẩn bị với sự đóng góp của hàng nghìn ý kiến khác nhau, của 4, 5 lần hội thảo mang tính quy mô rộng lớn như họp Bộ Chính trị, trưng cầu ý kiến của các văn sĩ…), của những ý kiến trái ngược nhau và cả những thăng trầm lớn nhỏ, bản dự thảo “Quyết nghị” cuối cùng đã ra mắt quảng đại quần chúng nhân dân.

 

Vụ Thiên An Môn năm 1989

Trong ngày 16/5, có hàng chục vạn người tới chi viện cho những sinh viên tuyệt thực trên Quảng trường Thiên An Môn. Đã có hơn 600 sinh viên phải đưa tới bệnh viện cấp cứu.

Xuân hè năm 1989 ở Trung Quốc đã xảy ra những vụ mất ổn định về chính trị – xã hội nghiêm trọng, bắt đầu từ ngày 16/4 dẫn đến cuộc trấn áp ngày 4/6, trên Quảng trường Thiên An Môn.

Ngày 15/4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra cáo phó: “Đồng chí Hồ Diệu Bang – người chiến sĩ cộng sản trung thành dày dạn kinh nghiệm, nhà cách mạng, nhà chính trị vô sản vĩ đại, cán bộ chính trị kiệt xuất của quân đội ta, nhà lãnh đạo lỗi lạc đã từng giữ nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của Đảng – trong khi dự Hội nghị Bộ Chính trị ngày 8/4/1989, đã bị một cơn đau tim đột ngột, mặc dù được tận tình cứu chữa nhưng không qua được, đồng chí đã tạ thế vào hồi 7 giờ 53 phút sáng ngày 15/4/1989, thọ 73 tuổi”.

Tin đồng chí Hồ Diệu Bang qua đời đã gây xúc động mạnh trong quần chúng nhân dân, nhất là trong thanh niên, học sinh Trung Quốc. Trong hai ngày 16 và 17/4, có hàng vạn người dân thủ đô đến dâng hoa viếng đồng chí Hồ Diệu Bang tại Đài kỷ niệm Anh hùng nhân dân trên Quảng trường Thiên An Môn. Tại các trường đại học, trong Lễ truy điệu đồng chí Hồ Diệu Bang đã xuất hiện một số biểu ngữ, khẩu hiệu, đại tự báo. Ngày 18/4, sinh viên một số trường đại học đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình. Các cuộc biểu tình đã diễn ra mấy ngày liền, xảy ra nhiều vụ xô xát và sau đó đã dẫn đến tình trạng những người biểu tình chiếm Quảng trường Thiên An Môn. Đồng thời, ở một số thành phố khác như Tây An, Trường Sa, Thành Đô… cũng xảy ra những vụ lộn xộn.

Sinh viên gây rối bị trấn áp.

Ngày 22/4, Lễ truy điệu Hồ Diệu Bang đã được cử hành tại Đại lễ đường nhân dân (nhà Quốc hội), có hơn 4.000 người tham dự. Đặng Tiểu Bình đã đến dự. Triệu Tử Dương đọc điếu văn. Trong khi đó, nhiều sinh viên và quần chúng vẫn tập trung ngoài hội trường. Tình hình rất căng thẳng.

Chiều 24/4, Thường vụ Thành ủy Bắc Kinh họp đề nghị Trung ương có thái độ và biện pháp kiên quyết với những người biểu tình gây rối. Tối hôm đó, Lý Bằng đã chủ trì cuộc hội ý của Thường vụ Bộ Chính trị (khi đó Tổng bí thư Triệu Tử Dương đang thăm Triều Tiên). Thường vụ Bộ Chính trị đã nhất trí với quan điểm của Thường vụ Thành ủy Bắc Kinh, đồng thời yêu cầu Thành ủy Bắc Kinh và UBND Bắc Kinh phát động quần chúng, tranh thủ đa số, cô lập thiểu số, nhanh chóng dẹp cuộc bạo động, ổn định tình hình. Sáng ngày 25/4, Đặng Tiểu Bình phát biểu đồng tình và ủng hộ quyết định của Thường vụ Bộ Chính trị và cho rằng: “Đây không phải là phong trào học sinh bình thường, mà là một cuộc bạo loạn chính trị nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị và bài nói chuyện của Đặng Tiểu Bình, ngày 26/4 Nhân dân nhật báo đăng xã luận: “Phải có thái độ rõ ràng chống bạo loạn”. Xã luận viết: “Sau Lễ truy điệu, một số ít người có dã tâm, tiếp tục lợi dụng tình cảm của thanh niên, học sinh thương tiếc đồng chí Hồ Diệu Bang, bịa đặt tin đồn nhảm, mê hoặc lòng người, lợi dụng báo chữ to, báo chữ nhỏ, để bôi nhọ, lăng mạ, công kích các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước; công khai vi phạm luật pháp, kêu gào chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, có kẻ thậm chí còn chiếm phòng phát thanh nhà trường; ở một số trường đại học còn kích động học sinh bãi khóa, thầy giáo nghỉ dạy, thậm chí ngăn cản học sinh lên lớp; lạm dụng danh nghĩa tổ chức của công nhân, phát tán truyền đơn phản động; còn tổ chức những cuộc tuần hành, âm mưu làm cho tình hình nghiêm trọng hơn.

Tình hình trên chứng tỏ, hành động của một số ít người không phải là hoạt động tưởng nhớ đồng chí Hồ Diệu Bang, không phải là để xúc tiến tiến trình chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, cũng không phải là phản ứng của những người bất mãn. Bọn chúng giương ngọn cờ dân chủ để phá hoại pháp chế dân chủ, mục đích là để ly tán nhân dân, làm loạn cả nước, phá hoại cục diện đoàn kết ổn định. Đó là một âm mưu có kế hoạch, là một cuộc bạo loạn, thực chất là nhằm hoàn toàn phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đặt toàn Đảng và nhân dân các dân tộc trong cả nước trước một cuộc đấu tranh chính trị nghiêm trọng”.

Bài xã luận đã kết thúc bằng khẩu hiệu hô hào “Tổ chức Đảng các cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đông đảo đảng viên cộng sản, đoàn viên thanh niên cộng sản, các đảng phái dân chủ và nhân dân cả nước, phải nhận rõ đúng sai, tích cực hành động đấu tranh để nhanh chóng chặn đứng cuộc bạo loạn đó”.

Ngày 27/4, hàng vạn sinh viên Bắc Kinh xuống đường biểu tình tuần hành, công an, cảnh sát ngăn chặn không nổi, một số nơi giao thông tắc nghẽn trong nhiều giờ liền.

Ngày 29/4, Thủ tướng Lý Bằng ủy nhiệm người phát ngôn của Chính phủ là Viên Mộc tọa đàm đối thoại với 46 sinh viên của 16 trường đại học ở Bắc Kinh (tại phòng họp của Trung ương Đoàn), nhưng không đi tới sự đồng thuận về quan điểm. Ngày 2/5, mấy chục sinh viên đại học Bắc Kinh đã gửi tờ thỉnh nguyện tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Trung ương Đảng, đưa ra 12 yêu cầu đối thoại. Ngày 4/5, mấy vạn sinh viên biểu tình mít tinh tại Thiên An Môn. Ngày hôm đó, Tổng bí thư Triệu Tử Dương đã phát biểu trong một buổi tiếp khách quốc tế rằng tình hình sẽ dịu dần, ở Trung Quốc sẽ không xuất hiện bạo loạn lớn… những người biểu tình phần lớn là sinh viên… “họ không phải là chống lại chế độ chúng tôi, mà là đòi hỏi chúng tôi phải khắc phục những biểu hiện xấu trong công tác của chúng tôi. Hiện nay, điều sinh viên bất mãn nhất là tình trạng tham nhũng…”. Triệu Tử Dương nói rằng, điều quan trọng nhất hiện nay là phải bình tĩnh, sáng suốt, kiềm chế, trật tự, giải quyết vấn đề trong khuôn khổ dân chủ và luật pháp. Sau đó đã có những cuộc tiếp xúc đối thoại giữa Tổng bí thư Triệu Tử Dương với học sinh, sinh viên Bắc Kinh, Lý Bằng tọa đàm đối thoại với công nhân Xí nghiệp Gang thép Thủ Đô.

Ngày 13/5, mấy trăm sinh viên Bắc Kinh tuyệt thực thỉnh nguyện trên Quảng trường Thiên An Môn, ra “Tuyên ngôn tuyệt thực”. Ngày 15/5, phái đoàn Đảng và Nhà nước Liên Xô do Goocbachốp dẫn đầu sang thăm Trung Quốc, theo kế hoạch đã định. Sáng ngày 16, khi tiếp Goocbachốp, Đặng Tiểu Bình đề nghị nhân dịp này tuyên bố bình thường hóa quan hệ Trung – Xô, với tinh thần “khép lại quá khứ, mở ra tương lai”.

Trong ngày 16/5, có hàng chục vạn người tới chi viện cho những sinh viên tuyệt thực trên Quảng trường Thiên An Môn. Đã có hơn 600 sinh viên phải đưa tới bệnh viện cấp cứu. Ngày 17/5, Tổng bí thư Triệu Tử Dương đã thay mặt Bộ Chính trị phát biểu bằng văn bản kêu gọi sinh viên đình chỉ tuyệt thực, giữ gìn sức khỏe. Ngày hôm ấy, có đến hơn triệu người dân Bắc Kinh, đủ các thành phần xã hội, xuống đường biểu tình, ủng hộ sinh viên tuyệt thực thỉnh nguyện. Sinh viên các thành phố khác trong cả nước cũng tổ chức míttinh biểu tình, chi viện cuộc tuyệt thực thỉnh nguyện của sinh viên thủ đô.

Tối ngày 19/5, Trung ương Đảng và Chính phủ họp với cán bộ đảng, chính quyền, quân đội của Bắc Kinh, kêu gọi hành động kiên quyết ngăn chặn cuộc bạo loạn, khôi phục trật tự ở thủ đô. Ngày 20/5, Thủ tướng Lý Bằng ký lệnh giới nghiêm một số khu vực của Bắc Kinh bắt đầu từ 10 giờ ngày 20/5. Ngày 3/6, Bộ Chỉ huy Quân đội giới nghiêm ra thông báo khẩn cấp, ra lệnh cho các đơn vị Quân giải phóng nhân dân đóng tại khu vực giới nghiêm ở Bắc Kinh phải kiên quyết chặn đứng bạo loạn, khôi phục an ninh trật tự ở thủ đô. Bản thông báo cho biết, tại một số nơi đã xảy ra xô xát giữa quân đội với thường dân, thậm chí có trường hợp ngăn chặn xe quân sự, cướp vũ khí… Bản thông cáo kêu gọi Công an và Bộ đội vũ trang “áp dụng mọi thủ đoạn” kiên quyết trấn áp bạo loạn, “mọi hậu quả, những người tổ chức, những người gây sự sẽ phải chịu trách nhiệm”.

4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 4/6/1989, các đơn vị bộ đội giới nghiêm, cảnh sát vũ trang đã tiến vào Quảng trường Thiên An Môn kiên quyết trấn áp những người tham gia bạo loạn.

Ngày 5/6, Trung ương Đảng và Chính phủ công bố “Thư gửi toàn thể đảng viên cộng sản và nhân dân cả nước”, nói rõ: “…hơn một tháng nay một số ít người có dã tâm đã cố ý gây bạo loạn, cuối cùng đã phát động bạo loạn phản cách mạng… Trước tình hình đó, đơn vị bộ đội giới nghiêm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã buộc phải thi hành biện pháp kiên quyết trấn áp cuộc bạo loạn đó”.

Ngày 9/6, tại Hoài Nhân Đường trong Trung Nam Hải, Đặng Tiểu Bình đã tiếp cán bộ từ cấp quân đoàn trở lên của Bộ đội giới nghiêm thủ đô. Trong bài phát biểu tại buổi tiếp, Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Cơn giông tố đó sớm muộn cũng sẽ tới… khẩu hiệu căn bản của bọn chúng một là lật đổ Đảng Cộng sản, hai là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Mục đích của bọn chúng là thiết lập một nước cộng hòa tư sản hoàn toàn phụ thuộc vào phương Tây…”.

Trong lần phát biểu khác, Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Lần này xảy ra tình hình hỗn loạn như vậy, có một nguyên nhân là tình trạng tham nhũng tràn lan, làm cho một bộ phận quần chúng mất lòng tin đối với Đảng và Chính phủ… Sự kiện đó thực sự đã làm bộc lộ hoàn toàn sai lầm của chúng ta”. Ngày 10/1/1990, Thủ tướng Lý Bằng đã ký lệnh hủy bỏ tình trạng giới nghiêm tại một số khu vực ở Bắc Kinh.

Từ ngày 23 đến 24/6/1989, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XIII. Hội nghị đã thông qua “Báo cáo về sai lầm của đồng chí Triệu Tử Dương trong vụ bạo loạn chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội” do Lý Bằng thay mặt Bộ Chính trị đề xuất. Bản báo cáo cho rằng đồng chí Triệu Tử Dương đã phạm sai lầm “ủng hộ bọn bạo loạn” và “chia rẽ Đảng”, phải chịu trách nhiệm về cuộc bạo loạn, tính chất sai lầm và hậu quả dẫn tới là “rất nghiêm trọng”. Hội nghị đã quyết định cách chức Tổng bí thư, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Phó chủ tịch thứ nhất Quân ủy Trung ương của Triệu Tử Dương và tiếp tục thẩm tra về vấn đề phạm sai lầm của Triệu Tử Dương. Hội nghị còn bãi miễn chức vụ Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương của Hồ Khải Lập và xử lý kỷ luật một số cán bộ khác có liên quan.

Hội nghị đã đề cử đồng chí Giang Trạch Dân giữ chức Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Theo Năng lượng Mới

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s