Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có từ khi nào?

  05/08/2011
Năm Minh Mạng thứ 12 (1832), tàu Peacok chở phái đoàn sứ giả do Edmund Roberts và Đại úy George Thomson dẫn đầu cập bến Đà Nẵng, xin trình quốc thư với lời thỉnh cầu xin được ký kết hiệp ước thương mại. Nhưng vì đó chỉ là một bức thư lập sẵn để viên Đại sứ thuận tiện đệ trình với bất cứ nước nào khi ghé vào bờ nên không được triều đình Minh Mạng chấp nhận
[links()]
Cuộc tiếp xúc đầu tiênViệc tiếp xúc giữa Hoa Kỳ với nước ta đến thế kỷ XIX mới bắt đầu. Điều đó không lạ, vì đến ngày 4/7/1776, Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ mới ra đời, 13 tiểu bang thoát khỏi ách thống trị của nước Anh và đến ngày 30/4/1789 vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ mới tuyên thệ nhậm chức, đó là G. Washington. Đến đời Tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ là James Monroe thì thương thuyền của Hoa Kỳ mới bắt đầu tỏa đi các nước châu Á.Năm Kỷ Mão (1819, niên hiệu Gia Long thứ 18), hai chiếc thuyền buôn của Hoa Kỳ cập bến cảng Sài Gòn (Gia Định) để mua đường đã được người địa phương tiếp đãi tử tế. Bắt đầu từ tháng 1/1819 đến tháng 8/1820 các tàu Franklin, Marmion do John White làm chủ lại đến mua hàng ở Gia Định và sau đó còn ra cả Hội An và suốt dải đất thuộc Đàng Trong. Vào thời điểm ấy, Hoa Kỳ chỉ là một “con sói trẻ” trong nền ngoại thương thế giới nhưng khác với những “con sói già” như Anh, Pháp, Hà Lan… chỉ sau một thời gian ngắn, người Mỹ đã hiểu khá tường tận về Việt Nam, những điều mà người Anh, Pháp mất hơn nửa thế kỷ mới có.

c
Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm và Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton

Tổng thống thứ bảy của Hoa Kỳ Andrew Jackson đã cử Đại sứ mang quốc thư đi các nước châu Á nằm ven biển để thực hiện hiệp ước thương mại. Năm Minh Mạng thứ 12 (1832), tàu Peacok chở phái đoàn sứ giả do Edmund Roberts và Đại úy George Thomson

dẫn đầu cập bến Đà Nẵng, xin trình quốc thư với lời thỉnh cầu xin được ký kết hiệp ước thương mại nhưng chỉ là một bức thư lập sẵn để viên Đại sứ thuận tiện đệ trình với bất cứ nước nào khi ghé vào bờ nên không được triều đình Minh Mạng chấp nhận vì cho là không hợp cách. Nhưng mà nhà vua vẫn truyền cho các quan ở công quán phải tiếp đãi phái đoàn Hoa Kỳ tử tế.

Năm Bính Thân (1836), tàu Peacock trở lại nước ta một lần nữa, giữa lúc các cuộc tiếp xúc đang có dấu hiệu khả quan thì tàu Peacock vội vã đi Ma Cao mà triều đình Nguyễn không biết lý do. Sau lần đó, cuộc tiếp xúc giữa nước ta với Hoa Kỳ bị lãng quên gần 4 thập niên, cái tên nước Malycan (Mỹ) dường như trong triều không mấy ai nhắc đến.

Bùi Viện, người Việt đầu tiên đặt chân tới Mỹ

Nếu năm 1832 Hoa Kỳ muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta thì khoảng 40 năm sau (1873) Bùi Viện đã trở thành người tri thức Việt Nam đầu tiên đặt chân tới Mỹ. Bùi Viện (1839 -1878), hiệu Mạnh Đức, là một nhà cải cách, nhà ngoại giao của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, làm quan dưới triều Tự Đức.

Từ cửa biển Thuận An, Bùi Viện xuống thuyền ra Bắc vào tháng 7 năm Quý Dậu (tháng 8/1873) và 2 tháng sau đến Hương Cảng lúc đó đã là nhượng địa của Anh và là đầu mối giao thông nối châu Á với phương Tây. Tại đây, Bùi Viện đã kết giao với một lãnh sự Hoa Kỳ. Được biết ý định của triều đình nhà Nguyễn, viên lãnh sự đã viết thư giới thiệu Bùi Viện với một người ở Hoa Kỳ để giúp ông tiếp kiến nguyên thủ Mỹ.

Bùi Viện sau đó đã qua Yokohama (Nhật Bản) để đáp tàu sang Mỹ, rồi lưu lại ở đó mất một năm vận động mới gặp được Tổng Thống Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868-1876). Lúc này Pháp và Mỹ đang đụng nhau trong trận chiến ở Mexico nên Mỹ tỏ ý muốn giúp một quốc gia đang bị Pháp uy hiếp. Nhưng Bùi Viện không mang theo quốc thư nên hai bên không thể có một cam kết chính thức.Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam, trở lại kinh thành Huế. Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương lần nữa. Năm 1875, ông có mặt tại Hoa Kỳ. Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ – Pháp đã qua cơn thù địch nên tổng thống Ulysses Grant khước từ cam kết giúp Việt Nam chống lại ảnh hưởng của Pháp.

Cao Bằng, nơi khởi nguồn quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ

Gần một thế kỷ sau, khi thực dân Pháp và phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương trong đó có Việt Nam thì Cao Bằng đã trở thành nơi khởi nguồn cho quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam – Hoa Kỳ. Đầu năm 1945, một máy bay Mỹ bị trúng đạn của quân Nhật ở thị xã Cao Bằng, viên phi công Mỹ nhảy dù xuống cánh đồng Nà Thúm, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An. Sau nửa tiếng bị quân Nhật truy lùng ráo riết, viên phi công được mặt trận Việt Minh đưa vào lánh nạn ở Khuổi Rươi, chân núi Kỳ Sầm.

Lúc này Bác Hồ ở Pác Bó, Hà Quảng, biết tin đã chỉ đạo cho mặt trận Việt Minh ở Hòa An dẫn viên phi công lên Pác Bó gặp Bác. Người này nghe Bác nói chuyện bằng tiếng quê hương mình thì ngạc nhiên vô cùng và còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ. Bác tặng viên phi công tấm lụa trắng thêu chữ “Chúc mưng khách đến” bằng tiếng Anh và tấm vải đỏ có nhiều chữ ký của hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ quân Đồng minh chống phát xít Nhật.Tháng 2/1945, Bác đích thân đưa viên phi công qua Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc). Ngày 17/3/1945, tại Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung úy Saclo Phen thuộc một đơn vị tình báo Mỹ đón tiếp và dẫn Bác gặp Trung tướng Seron Tư lệnh tập đoàn không quân số 14 của Mỹ ở Hoa Nam, đại diện quân Đồng minh chống phát xít Nhật. Một cuộc hội đàm lịch sử giữa đoàn Việt Nam độc lập vối đoàn đại biểu  Mỹ diễn ra tại Côn Minh.Kết quả cuộc hội đàm là hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ đánh Nhật ở Việt Nam. Tướng Seron cảm tạ Bác và Mặt trận Việt Minh đã cứu viên phi công, tặng tấm hình của Seron có chữ ký, sáu khẩu súng ngắn, thuốc men và tiền bạc. Bác từ chối số tiền mà tướng Seron muốn tặng. Hai bên đã thỏa thuận về phương thức hợp tác. Quân Đồng Minh Mỹ sẽ cung cấp phương tiện thông tin liên lạc, vận chuyển hàng tiếp tế cho Việt Minh bằng máy bay. Ngày 20/3/1945, chuyến hàng đầu tiên gồm điện đài, thuốc men được máy bay Mỹ thả xuống cánh đồng Pác Cam, xã Bình Long, huyện Hòa An.

Tháng 4/1945, một máy bay Mỹ đưa Bác và hai nhân viên là Mác Phin và Ti Tan, tình báo viên điện đài, về biên giới Việt Nam. Ngày 4/5/1945, về Tân Trào, Tuyên Quang. Đó là hai người Mỹ đầu tiên đặt chân lên khu giải phóng – Thủ đô kháng chiến của dân tộc ta.Tại Tân Trào Đại Đội Việt – Mỹ đã được thành lập do đồng chí Đàm Quang Trung và Thiếu tá Thomas đồng chỉ huy.
Bác Hồ đã chủ động đặt quan hệ với Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rõ cuộc chiến đấu của Mặt trận Việt minh chống phát xít Nhật và hạn chế sự phá hoại của Quốc dân Đảng Trung Hoa đang chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” sau chiến tranh. Cao Bằng trở thành nơi khởi đầu cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.Theo Hà Nội Mới

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s