Hải quân và các định hướng tương lai của Trung Quốc

Tác giả: Dean Cheng

Người bảo lãnh quan trọng nhất cho sức mạnh biển Trung Quốc là Hải quân. Thực vậy, sự phát triển của PLA-N phản ánh sự phụ thuộc ngày càng lớn của Trung Quốc vào biển.

 

PLA – N: Cái nhìn toàn cảnh

Trong thời chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc là lực lượng bảo vệ bờ biển tuyến đầu. Họ có một số tàu nổi lớn (tàu khu trục hoặc lớn hơn) hoặc các tàu ngầm hiện đại, và thay vì dựa vào các kế hoạch tiến hành một ‘cuộc chiến tranh nhân dân” trên biển, sử dụng một tàu phóng ngư lôi và tên lửa cũng như các tàu ngầm cũ để giành thế áp đảo các đối thủ tinh vi hơn. Trong những năm 1970 và 1980, “định hướng chiến lược chính” của lực lượng này là bờ biển phía Đông và đường biên giới phía Bắc, vì người Trung Quốc lo ngại xảy ra xung đột với Liên Xô. Hạm đội Bắc Hải khi đó là lực lượng hải quân chính của Trung Quốc.

Khi kết thúc chiến tranh Lạnh, đã có một số thay đổi căn bản trong suy nghĩ của Trung Quốc. Quan trọng nhất, Hải quân, giống như phần còn lại của PLA, đã chuyển hướng khỏi sự phụ thuộc vào tập thể. Phù hợp với “Hai chuyển biến” của Giang Trạch Dân, PLA-N đã chuẩn bị để chiến đấu và chiến thắng “các cuộc chiến tranh cục bộ trong các điều kiện công nghệ cao và hiện đại”. Họ cũng đã thay đổi theo hướng củng cố chất lượng và sự tinh vi về công nghệ, hơn là số lượng, song năng lực còn hạn chế.

Các xu hướng này phản ánh trong những thay đổi mới đây trong hạm đội của PLA-N. Trong thập kỷ qua, quy mô của Hải quân Trung Quốc đã giảm, nhiều tàu lỗi thời đã được sa thải. Một loạt tàu tấn công nhanh, trang bị tên lửa và cũ hơn – đa phần mang tên lửa chống hạm lớp Styx từ thời những năm 1960 – đã được cho nghỉ hưu. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng tiếp tục chế tạo các tàu tấn công nhanh trang bị tên lửa, như tàu trang bị tên lửa Houbei lớp 022. PLA-N đã huy động 60 tàu lớp 022 này từ năm 2007. Các tàu này, mang tên lửa chống hạm chiến thuật tầm trung YJ-82 lướt trên mặt biển, tân tiến hơn nhiều so với các tàu mà chúng thay thế.

Tương tự, Trung Quốc đã giảm số lượng tàu chiến lớn trong PLA-N, thay vào đó chọn các tàu có các năng lực cá nhân lớn hơn. Chẳng hạn tàu khu trục Type-052C lớp Luyang-II, được trang bị hệ thống radar mảng cho tên lửa đất đối không HQ-9 (SAM). HQ-9 được cho là tương đương với tến lửa Patriot đời đầu với khả năng tấn công hầu hết các hệ thống phản lực không khí và một khả năng chống tên lửa đạn đạo hạn chế. Tương tự, tàu khu trục Type 054A lớp Jiangkai-II được trang bị hệ thống HQ-16 SAM, hiệu quả hơn nhiều so với các hệ thống phòng không trước đây của Trung Quốc. Dù các tàu mới này không thay thế các tàu chiến nổi cũ của Trung Quốc theo kiểu một đổi một, nhưng khả năng chung của lực lượng tàu nổi của PLA-N đã được cải thiện vững chắc.

Tuy nhiên, cần nói rằng PLA-N chỉ chế tạo thêm một số lượng ít đối với mỗi lớp tàu khu trục mới (chỉ khoảng 2-4 tàu). Rất có thể Trung Quốc đã sử dụng các lớp mới này như một cơ hội thử các vũ khí và thiết bị điện tử khác nhau cho đến khi tìm ra một thiết kế tối ưu để sản xuất hàng loạt.

Ngược lại, PLA-N đã duy trì quy mô lực lượng tàu ngầm trong khi hiện đại hóa hạm đội này. Từ năm 2000, PLA-N huy động thêm từ 50-60 tàu ngầm chạy bằng điện – diesel, nhưng tuổi và khả năng của lực lượng này đã được cải thiện, cụ thể các tàu cũ, nhất là tàu lớp Romeo từ những năm 1950, đã được thay thế bằng những thiết kế mới hơn. Như một chục tàu ngầm lớp Kilo mua của Nga, hay 16 tàu ngầm lớp Song và 4 tàu lớp Yuan tự chế tạo trong nước. Tất cả các tàu này được cho là không chỉ có khả năng phóng ngư lôi mà còn sử dụng tên lửa hành trình chống hạm. Trung Quốc cũng đã phát triển các biến thể của lớp Yuan với một hệ thống lực đẩy độc lập (AIP), giúp giảm tính dễ bị tổn thương của tàu bằng cách thay đổi động cơ chạy bằng diesel gây tiếng ồn bằng loại ắc quy có thể xạc lại.

Bên cạnh đó, PLA-N đã gia tăng năng lực tấn công biển từ trên không. Bên cạnh nhiều phiên bản hiện đại hơn của các máy bay ném bom hai động cơ H-6 (một phiên bản của Tu-16), Không lực của PLA-N (PLANAF) đã đưa vào sử dụng một loạt máy bay tấn công khác, như chiếc Leopard bay JH-7/FBC-1 có thể mang từ 2-4 tên lửa hành trình chống hạm YJ-82, và máy bay chiến đấu tấn công Su-30.

Bên cạnh việc nâng cấp vũ khí, PLA-N cũng cải thiện học thuyết và huấn luyện, trong đó nhấn mạnh các chiến dịch chung và sự hợp nhất chiến tranh điện tử vào chương trình huấn luyện. Những cải thiện đó cho thấy các tài sản, các chiến dịch trong không gian và trên mạng của PLANAF, và cả các lực lượng  Pháo binh Thứ hai có thể hỗ trợ các cuộc tấn công của PLANAF. Các lực lượng tên lửa đạn đạo chống hạm mới, tập trung vào DF-21D, sẽ được xem là một phần các nỗ lực chung của Trung Quốc nhằm kiểm soát các vùng biển, hoàn thiện Không quân và các lực lượng trên không, trên biển và ngầm dưới biển của PLA-N.

Thay đổi định hướng chiến lược

Từ khi kết thúc chiến tranh Lạnh, định hướng chiến lược chính của PLA-N, vốn tập trung vào khu vực có khả năng xảy ra xung đột nhất, cũng đã chứng kiến một thay đổi cơ bản. Khi Liên bang Xô viết tan rã, Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô không còn là mối lo ngại chính của các nhà hoạch định PLA-N nữa. Thay vào đó, mối lo ngại chính là khả năng Đài Loan tìm cách tách ra độc lập. Kết quả là “định hướng chiến lược chính” đã thay đổi từ Bắc sang Đông. Trong những năm 1990, Hạm đội Đông Hải, một phần của Khu Quân sự Nam Kinh chống lại Đài Loan, đã trở thành ưu tiên.

Ảnh minh họa: covertress

Ngày nay, Hạm đội Nam Hải, phụ trách biển Đông, dường như đang được quan tâm hơn, có thể gợi ý cho một thay đổi sau này trong định hướng chiến lược chính hướng tới phía Nam và phía Đông. Tuy nhiên, Hạm đội Đông Hải vẫn được hỗ trợ nhiều nhất, và Hạm đội Bắc Hải đang được hiện đại hóa.

Về điểm này, có thể định hướng chiến lược chính của PLA-N không còn tập trung vào một sự kiện đặc biệt nào (như Đài Loan hay biển Đông), mà thay vì thế, chuyển sự chú ý vào bảo vệ các vùng lãnh hải của Trung Quốc tới “chuỗi đảo thứ nhất”. “Chuỗi đảo thứ nhất này” chạy từ quần đảo Nhật Bản, dọc chuỗi Ryukyus, qua Đài Loan và Philippines, tới eo biển Malacca. Sự thay đổi tới một nền tảng hoạch định chính sách định hướng các năng lực này sẽ phù hợp với “Hướng dẫn chiến lược quân sự cho thời kỳ mới” của Giang Trạch Dân và “Các nhiệm vụ lịch sử mới” của PLA mà ông Hồ Cẩm Đào đưa ra.

Sách Trắng quốc phòng Trung Quốc 2010 dường như hỗ trợ cho quan điểm này, bởi nó nêu chi tiết chưa từng thấy về không chỉ các nỗ lực xây dựng đang tiến hành trên biển, mà cả các nhiệm vụ của PLA-N. Ngoài đóng một vai trò duy trì răn đe chiến lược bằng các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, sách trắng quốc phòng 2010 ghi rằng Hải quân Trung Quốc cũng chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt động ở các vùng biển xa và chống lại các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Một chỉ dẫn khác cho thấy PLA-N đang tập trung vào năng lực toàn cầu hơn là một sự kiện đặc biệt nào, đó là quyết định của Trung Quốc mua tàu sân bay. Khi tàu Shi Lang – đặt tên theo đô đốc hải quân dưới thời Mãn Chu đã chinh phục Đài Loan năm 1681 – được hạ thủy, PLA-N mở rộng tầm với của mình ra ngoài các giới hạn của PLANAF có trụ sở trên đất liền. Đây là một bước quan trọng nếu PLA-N là một lực lượng hải quân có khả năng tác chiến mở rộng trên biển – mà đôi khi được gọi là “hải quân biển xanh”.

Các định hướng tương lai của Trung Quốc

Khi PLA hiện đại hóa vững chắc hạm đội của mình, một số người cho rằng thế giới đứng bên bờ một cuộc chạy đua vũ trang hải quân, giống như cuộc chạy đua giữa Anh và Đế quốc Đức vào thế kỷ 19, hoặc giữa Mỹ với Đế quốc Nhật vào những năm 1930. Trong từng trường hợp, hai bên đã xây dựng các hạm đội tương ứng, tập trung vào các tàu chiến và tàu sân bay, và tập trung vào “các trận đánh hạm” mang tính quyết định trong từng chiến tuyến của mình.

Tuy nhiên, sự phát triển của Hải quân Trung Quốc không phù hợp với mô hình này. Một mặt, PLA-N ngày nay đang thách thức vai trò bá chủ biển của Mỹ. Việc Trung Quốc mua tàu sân bay không khiến sức mạnh biển của Trung Quốc có thể sánh vai được với Mỹ. Tàu Shi Lang là một tàu sân bay cũ của Ukraine được đại tu, nhưng ngay sau khi nó được hạ thủy, Shi Lang sẽ vẫn phải trải qua các thử nghiệm trên cảng, trên biển và cần kiểm tra kỹ càng. Tàu này có lẽ chưa sẵn sàng cho các chiến dịch bình thường trong ít nhất 6 tháng đến một năm tới.

Hơn nữa, Trung Quốc sẽ phải mất thời gian để huấn luyện một nhóm phi công có khả năng điều khiển các chiến dịch bay từ một đường băng là boong tàu nghiêng và bị rung lắc. Bên cạnh đó, họ sẽ phải phối hợp nhiều tàu phụ trợ, trong đó có các tàu hộ tống và cung cấp nhiên liệu, nhằm cho phép một tàu sân bay hoạt động một cách an toàn khi đi vào nơi nguy hiểm. Chính điệu ballet phức tạp của các tàu chiến và máy bay này mới cho phép một tàu sân bay thể hiện được ảnh hưởng và sức mạnh, nhưng điệu múa đó không thể nhảy trong đêm.

Cũng có tầm quan trọng tương đương là việc PLA-N không giống với Hải quân Mỹ. Bắc Kinh đã chế tạo tàu tấn công nhanh và tàu ngầm với số lượng lớn, nhưng số lượng tàu nổi thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hiện tại, PLA-N không giống với một lực lượng hải quân được thiết kế để tiến hành tuần tra biển ở khoảng cách rộng trong một thời gian dài. Số lượng lớn tàu ngầm và tàu tấn công nhanh, cộng với việc chế tạo các tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D và tên lửa hành trình chống hạm, cho thấy PLA có thể đang theo đuổi một chiến lược bất cân xứng trên biển: một chiến lược chống tiếp cận/bao vây (A2AD). Có thể ưu tiên đầu tiên của PLA-N là giữ cho Hải quân Mỹ ở khoảng cách xa khỏi bờ biển Trung Quốc và vùng biển trong chuỗi đảo thứ nhất, hơn là thách thức Mỹ từ Thái Bình Dương tới Đại Tây Dương.

Tuy nhiên, các giới hạn hiện nay của PLA-N sẽ không ngăn cản Trung Quốc cuối cùng trở thành một cường quốc biển lớn, cũng không có nghĩa là họ không có ý định xây dựng một lực lượng hải quân vững chắc. Thay vào đó, ngay trước khi Shi Lang được hạ thủy, rõ ràng PLA-N sẽ gia nhập hàng ngũ các cường quốc biển lớn, không chỉ về số lượng các tàu chiến lớn mà cả các nhiệm vụ mà họ có thể thực hiện. PLA-N đã mở rộng phạm vi tác chiến của mình xa hơn vùng bờ biển. Lực lượng chống cướp biển ở vịnh Aden của họ là bằng chứng cho thấy khả năng ngày càng tăng của Trung Quốc hoạt động trên biển trong một thời gian dài. Trung Quốc cũng đang xây dựng một hạm đội tàu bệnh viện để có thể thể hiện sức mạnh của Trung Quốc trên biển trong thời bình.

Tuy nhiên, một lực lượng Hải quân Trung Quốc có thể chế ngự các vùng biển trong chuỗi đảo thứ nhất không hẳn là để phòng thủ. Tuần tra các hải trình đi qua chuỗi đảo thứ nhất cũng có thể cho phép Trung Quốc gây sức ép với những quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, những nước cũng phụ thuộc vào biển cho sự sống còn của quốc gia mình. Một lực lượng Hải quân Trung Quốc có thể chế ngự các vùng nước trong chuỗi đảo thứ nhất cũng có thể áp đảo các lực lượng nhỏ hơn ở Đông Nam Á và giành ưu thế trong vấn đề Đài Loan.

Điều còn chưa chắc chắn là liệu Hải quân Trung Quốc cuối cùng có giống như Hải quân Mỹ hay không. Có thể khác biệt lớn nhất giữa hai lực lượng này là phạm vi cái nhìn ra biển của một cường quốc đất liền trong con mắt của các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia Trung Quốc. Các tài liệu của Trung Quốc cho thấy các chiến lược gia nước này không coi biển là một đường cao tốc dẫn tới thương mại quốc tế và huy động quân sự, mà là một sự mở rộng của đường biên giới và lãnh thổ một quốc gia.

Những lo ngại của Trung Quốc về chủ quyền đối với các vùng biển của mình cũng giống như quan niệm của họ về sự toàn vẹn lãnh thổ. Báo cáo phát triển biển Trung Quốc tuyên bố một cách đặc biệt rằng các đại dương là “vùng đất xanh” của một quốc gia, và nhấn mạnh rằng biển và đất liền nên được coi là có giá trị chiến lược tương đương. Tương tự, các lo ngại của Trung Quốc về việc kiểm soát các vùng nước nằm trong chuỗi đảo thứ nhất cho thấy một cái nhìn mang tính tĩnh hơn về việc tuần tra trên các đại dương, giống với việc tạo ra các con đường vững chắc trên đất liền. Việc Bộ binh tiếp tục là lực lượng chủ đạo trong quân đội Trung Quốc (dù đã ít hơn trong nhiều thập kỷ qua) cũng có thể là một nhân tố ảnh hưởng tới cách nghĩ của PLA và PLA-N.

Thực tế địa lý cũng là một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới tương lai sự phát triển của Hải quân Trung Quốc. Chuỗi đảo thứ nhất vừa là một cái khiên chắn vừa là một trở ngại: Chừng nào chuỗi đảo này còn nằm trong tay các quốc gia “thù địch”, Hải quân Trung Quốc và các thương thuyền sẽ còn thấy khó đến được biển lớn nếu xảy ra xung đột. Về quân sự, khó khăn này sẽ hạn chế khả năng PLA-N thể hiện sức mạnh; về kinh tế, nó có nguy cơ bóp nghẹt nền kinh tế Trung Quốc.

Ngược lại, nếu một hoặc nhiều quần đảo nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ thấy dễ dàng hơn nhiều trong việc ngăn chặn các đối thủ tiếp cận các thành phố duyên hải của mình, nơi là trung tâm trọng lực kinh tế quốc gia. Hơn nữa, các lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc khi đó có thể vươn ra trung tâm Thái Bình Dương, không chỉ tác động đến các lực lượng hải quân thù địch, mà còn có thể phá hoại các tuyến thông thương trên biển của kẻ thù.

Tuy nhiên, ngay cả khi Bắc Kinh sẽ đảm bảo kiểm soát chuỗi đảo thứ nhất, hay ít nhất là được chia phần trong đó, đường giao thông huyết mạch trên biển của Trung Quốc sẽ không tự động được đảm bảo. Nếu quân đội Trung Quốc phải hoàn thành “các nhiệm vụ lịch sử mới” của mình, trong đó có bảo vệ các lợi ích quốc gia trên biển, họ sẽ phải mở rộng sự bảo vệ dọc toàn bộ chiều dài của các tuyến đường thông thương biển. Các hải trình có thể bị đe dọa ở ngoài khơi xa và ở vị trí gần điểm đến cuối cùng; và ở bất cứ đâu trên tuyến đường này đều có thể bị cấm vận. Khả năng Trung Quốc chế ngự chuỗi đảo thứ nhất, vì thế, sẽ chỉ là bước đầu tiên hướng tới việc hoàn toàn đảm bảo an ninh biển, hơn là một giải pháp cuối cùng.

Nói tóm lại, nếu muốn bảo vệ các lợi ích trên biển của mình, Trung Quốc phải hoạt động trong hai môi trường biển tách biệt. Một là trong các vùng biển bao quanh bởi chuỗi đảo thứ nhất. Các chiến lược gia Trung Quốc cho rằng Trung Quốc cần chế ngự các vùng nước này nhằm giảm thiểu mối đe dọa đối với các trung tâm kinh tế duyên hải của mình. Sự chế ngự như vậy có thể thực hiện được thông qua sự kết hợp các tàu ngầm, tàu tấn công nhanh, máy bay chiến tấn công, và các tên lửa đạn đạo và hành trình chống hạm.

Môi trường thứ hai là mạng lưới đường thủy quốc tế ngoài “các vùng biển gần” của Trung Quốc. Điều này giống như đòi hỏi tổng thể các năng lực bao gồm không chỉ một số lượng lớn các chiến binh hải quân, mà cả khả năng tiến hành chiến dịch, duy trì sự giám sát và thông tin toàn cầu, và cung cấp các hỗ trợ hậu cần. Các tuyến đường thủy toàn cầu này sẽ là cái khó đối với Trung Quốc, nước chưa bao giờ phải tác chiến liên tục trong môi trường như vậy.

Dean Cheng is Research Fellow in Chinese Political and Security Affairs in the Asian Studies Center at The Heritage Foundation.

Còn tiếp….

  • Châu Giang dịch từ The Haritage Foundation

 

 

Nước Mỹ trước tham vọng biển của Trung Quốc

 

Tác giả: Dean Cheng

01/08/2011

Sự mở rộng của lực lượng Hải quân thuộc Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA-N) xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi.

Sự mở rộng của lực lượng Hải quân thuộc Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA-N) xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới; sự phụ thuộc lớn của họ vào thương mại đương nhiên khiến biển ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn đối với sự phát triển đất nước. Nhưng khi các tham vọng biển của Trung Quốc tiếp tục mở rộng, Mỹ đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn: thừa nhận các lợi ích của Trung Quốc mà không nhượng bộ cho các đòi hỏi của nước này. Việc Mỹ sẽ đối mặt với thách thức này như thế nào sẽ quyết định tương lai khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như quyết định liệu Mỹ có giữ được vai trò bá chủ trên biển trong thế kỷ tới hay không.

Trong nhiều thập kỷ qua, quân đội Trung Quốc đã cải thiện đáng kể các năng lực tác chiến của mình. Một phần dựa trên các bài học từ việc quan sát các lực lượng quân đội nước ngoài và các cuộc chiến tranh ở nơi khác, PLA đã mở rộng lực lượng của mình (về số tên lửa đạn đạo chẳng hạn), cải thiện năng lực chỉ huy và giám sát, và bắt đầu tham gia thực hiện các chiến dịch chung. Họ cũng đã chuyển từ việc tập trung vào các chiến dịch trên đất liền sang cải thiện các lực lượng trên không và trên biển.

Sự mở rộng của PLA-N xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi. Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sự phụ thuộc lớn vào thương mại, cả về nguyên liệu đầu vào để cung cấp cho nền kinh tế ấy cũng như để xuất khẩu, tất yếu khiến biển có tầm quan trọng ngày càng lớn hơn đối với sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, qua thời kỳ “Cải cách và Mở cửa”, bắt đầu dưới thời Đặng Tiểu Bình, tầm quan trọng ngày càng lớn của thương mại quốc tế đã khiến trung tâm của nền kinh tế Trung Quốc chuyển dần ra phía biển. Nhiệm vụ phòng thủ biển cũng ngày càng quan trọng đối với giới lãnh đạo Trung Quốc.

Không phải mọi lực lượng hải quân đều được hình thành như nhau. Các ý định cũng quan trọng như – thậm chí hơn – các năng lực. Sự phát triển biển của Trung Quốc có thể đơn giản là nhằm bảo vệ các tuyến đường kinh tế của nước này, hoặc có thể nhằm ép buộc các nước láng giềng cũng phụ thuộc nhiều vào biển. Vì vậy, sự mở rộng hải quân Trung Quốc nên được đánh giá một cách thận trọng và tỉnh táo.

Trung Quốc và biển: sự phụ thuộc ngày càng lớn

Trung Quốc thường được nghĩ đến như một cường quốc lục địa. Trong lịch sử, nhìn chung thì đúng như vậy, dù có những thời kỳ lợi ích của Trung Quốc nằm ngoài biển. Gần đây nhất là những năm 1400, dưới thời nhà Minh, khi Đô Đốc Trịnh Hòa (Zheng He) dẫn đầu “những hạm đội châu báu” trên hành trình viễn chinh khám phá biển Đông và Ấn Độ Dương, tới tận Mogadishu (ở Somalia) trên bờ biển phía Đông châu Phi ngày nay. Tuy nhiên, sau khi Đô Đốc Trịnh Hòa trở về sau chuyến viễn chinh, Trung Quốc đã quay lưng lại với biển.

Ảnh minh họa: weapons.technology.youngester.com

Trung Quốc ngày nay phụ thuộc nhiều hơn vào biển so với Trung Quốc thời phong kiến trước đây. Người Trung Quốc ghi lại rằng, từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), kim ngạch thương mại của Trung Quốc với các quốc gia khác đã tăng trưởng vững chắc, tỷ lệ thuận với hoạt động kinh tế quốc gia, đạt đến mức tác động tới 60-70% nền kinh tế. Không có thương mại, Trung Quốc sẽ không thể giữ vững được nền kinh tế của mình, chứ chưa nói đến việc duy trì  tỷ lệ tăng trưởng cần thiết để giữ thất nghiệp ở mức thấp – điều được coi là chìa khóa mà đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) duy trì quyền lực.

Giao thương trên biển là một phần quan trọng trong thương mại của Trung Quốc. Theo các số liệu thống kê mới đây của nước này, công bố trong Báo cáo Phát triển Biển Trung Quốc năm 2010, thương mại biển chiếm 9,87% GDP Trung Quốc, đạt gần 3.000 tỷ NDT (456 triệu USD), riêng trong năm 2008. Tuy nhiên, khoảng 85% thương mại quốc tế diễn ra qua các tuyến đường biển.

Một phần quan trọng của thương mại biển là sự phụ thuộc ngày càng lớn của Trung Quốc vào nhập khẩu dầu mỏ để giữ vững nền kinh tế. Trung Quốc nhập hơn một nửa lượng dầu tiêu thụ trong nước năm 2009 và dự tính phải nhập khoảng 65% nhu cầu tiêu thụ mặt hàng “vàng đen” này vào năm 2020. Đa số nguồn dầu nhập khẩu này đến từ Trung Đông, trong đó có Iran và Arập Xêút, đòi hỏi một dòng tàu chở dầu đều đặn tới các cảng biển Trung Quốc. Các vấn đề gần đây ở Kazakhstan, trong đó có việc các công ty dầu lửa phương Tây ngừng khai thác các mỏ dầu lớn ở Kashagan trên biển Caspia, sẽ càng gia tăng sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nguồn dầu mỏ từ Trung Đông và các chuyến tàu biển.

Chiến lược phát triển biển của Trung Quốc

Vì phụ thuộc ngày càng nhiều vào biển như trên, người Trung Quốc đã rút ra kết luận là họ phải phát triển một chiến lược điều hành và quản lý sự phát triển biển của mình. Theo các chuyên gia Trung Quốc, một chiến lược như thế phải tính đến ba điều:

–                        Các lợi ích rộng lớn trên biển của Trung Quốc, trong đó có sự phụ thuộc ngày càng tăng vào các hải trình quốc tế phục vụ thương mại;

–                        Các lợi ích an ninh quốc gia của Trung Quốc, trong đó có khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên biển, chống lại sự can thiệp “bá quyền” vào các công việc nội bộ của Trung Quốc, an ninh cho các hải trình, nguy cơ xung đột vũ trang xuất phát từ các yêu sách tranh chấp về biên giới biển hoặc các đảo, và vấn đề Đài Loan

–                        Sự cần thiết phải xây dựng một “xã hội hài hòa” trên biển, trong đó thừa nhận tính tất yếu của cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng nhằm giành được các nguồn tài nguyên biển.

Tính đến các lợi ích này, chiến lược biển Trung Quốc dựa trên một số suy nghĩ chỉ đạo và nguyên tắc cơ bản. Bắt đầu từ tầm quan trọng của việc duy trì vai trò giám sát của quốc gia đối với lãnh thổ và hỗ trợ các lợi ích quốc gia trong khi dựa vào câu châm ngôn của ông Đặng Tiểu Bình về “Phát triển và Hòa bình” (tức là hy vọng sẽ không xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trong thời gian trước mắt).

Nhiệm vụ biển quan trọng đối với sự phát triển tương lai của Trung Quốc bao gồm:

–                        Bảo vệ quyền của Trung Quốc đối với “các vùng nước liên quan”;

–                        Phát triển kinh tế biển Trung Quốc;

–                        Tăng cường sử dụng đại dương và quản lý đảo;

–                        Giữ vững môi trường biển;

–                        Phát triển các ngành công nghiệp biển và hải dương học;

–                        Gia tăng những đóng góp của Trung Quốc và ngành hải dương học toàn cầu.

Có nhiều cách để Trung Quốc theo đuổi nhiệm vụ này mà không phải gây hấn. Chẳng hạn Báo cáo Phát triển biển đã ghi nhận tầm quan trọng của việc tham gia các dự án hợp tác quốc tế. Nhưng cùng lúc, báo cáo này cũng cho rằng Trung Quốc không nên nhượng bộ các yêu sách hoặc lợi ích biển của mình chỉ để tránh những cáo buộc về “mối đe dọa Trung Quốc” hay nhân nhượng các nước lớn. Thay vì thế, báo cáo nhấn mạnh các lợi ích quốc gia rộng lớn của Trung Quốc đòi hỏi nước này theo đuổi sự phát triển biển. Nói ngắn gọn là Trung Quốc đã chuẩn bị để theo đuổi một loạt chính sách quốc gia mang tính xác quyết nhằm kiểm soát các vùng lãnh hải và vùng biển tiếp giáp – ngay cả khi các chính sách này có thể xung đột với các cường quốc biển và các nước láng giềng.

Các công cụ của sức mạnh biển Trung Quốc

Để hỗ trợ đầy đủ các nhiệm vụ và bảo vệ các lợi ích trên, Trung Quốc đã mở rộng mọi công cụ của sức mạnh biển, trong đó có ngành công nghiệp đóng tàu, các công ty tàu biển và các lực lượng hàng hải và hải quân.

Vì thương mại của Trung Quốc tăng trưởng, hàng hóa của Trung Quốc thường được đem tới các điểm đến tiêu thụ của mình trên các phương tiện của chính Trung Quốc. Hai trên 10 công ty vận tải container lớn nhất trên thế giới là của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc: Tập đoàn vận tải biển Trung Quốc (COSCO), và Công ty TNHH Vận Tải Biển Trung Quốc (CSCL).

Nhiều trong số các con tàu này được ra đời trong các xưởng đóng tàu Trung Quốc. Trung Quốc trở thành xưởng đóng tàu lớn nhất thế giới năm 2010, soán ngôi lâu năm của Hàn Quốc; “các tàu do Trung Quốc đóng có tổng trọng tải 65,5 triệu tấn, chiếm 43% khả năng trọng tải của các tàu được đóng trên thế giới”. Tuy nhiên, các công ty đóng tàu Trung Quốc không chỉ phục vụ trong nước. Năm 2010, đa số đơn đặt hàng mới của các xưởng đóng tàu ở Trung Quốc đến từ nước ngoài.

Ngành công nghiệp đóng tàu Trung Quốc bao gồm một loạt các xưởng đóng tàu tư nhân nhỏ lẻ, nhưng hầu hết tập trung vào hai trung tâm đóng tàu lớn, Tập đoàn Đóng tàu Quốc gia Trung Quốc (CSSC) và Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (CSIC). Đây đều là hai doanh nghiệp nhà nước (SOEs).

CSIS có 140.000 nhân viên và tài sản trị giá 27,5 tỷ USD. Dây chuyền sản xuất của công ty gồm một loạt các loại tàu, như tàu chở dầu, tàu chở hàng trọng tải lớn, tàu container, cầu cảng RO/RO cho phép xe cộ lên xuống, và các loại tàu đặc dụng. Công ty cũng chế tạo tàu chiến cho quân đội Trung Quốc. Giống như các SOEs khác, công ty này trên thực tế là một tập thể phối hợp dọc và bao gồm không chỉ các xưởng sửa chữa và đóng tàu, mà cả các viện thiết kế, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm, tuyển dụng khoảng 30.000 kỹ sư. Tương tự CSIC không chỉ sản xuất vỏ tàu mà cả động cơ diesel, các linh kiện điện tử, và một loạt phương tiện vận tải biển.

Với khoảng 95.000 nhân viên, CSSC nhỏ hơn CSIC một chút. Nhưng giống như CSIC, công ty này sản xuất cả tàu dân sự và quân sự, và tham gia một loạt các nghiên cứu và thiết kế khác. CSSC chế tạo một loạt tàu cho tiêu dùng dân sự, nhưng trọng tâm chính là phục vụ quân sự. Trang web của công ty mô tả CSSC là “lực lượng xương sống của hải quân Trung Quốc trong lĩnh vực xây dựng”.

Một số lực lượng khác bảo vệ các lợi ích biển ngày càng tăng của Trung Quốc. Một trong số đó là Cơ quan thực thi pháp luật nghề cá (FLEC), một cánh tay của Phòng quản lý nghề cá thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, có trách nhiệm tuần tra các ngư trường của Trung Quốc. Cơ quan này có ba đội tàu đầu não, nắm quyền điều hành các đơn vị địa phương thiết lập tại các thành phố lớn và các tỉnh duyên hải. FLEC huy động khoảng 10-20 tàu lớn, gồm các tàu tuần tra có trọng tải từ 1.000 tấn và một tàu ngầm cứu hộ gần 5.000 tấn. FLEC phối hợp đều đặn với Lực lượng Tuần duyên Mỹ (USCG), trong đó có chương trình “Cưỡi tàu”, theo đó các sỹ quan FLEC cùng tuần tra trên các tàu của USCG trong mùa đánh bắt.

Bộ Giao thông Trung Quốc quản lý Cục An toàn đường thủy Trung Quốc (MSA). Tương tự như USCG, MSA có trách nhiệm trong các vấn đề an toàn biển và theo dõi và kiểm soát ô nhiễm trên các con sông lớn của Trung Quốc cũng như ở vùng bờ biển. Cục này cũng quản lý các biện pháp hỗ trợ và kiểm soát vận tải biển. MSA giám sát 20 chi cục cấp tỉnh của mình, trong đó có các tỉnh duyên hải và dọc các sông Dương Tử, Châu Giang và Hắc Long Giang. Các chi cục này lại có nhiệm vụ giám sát 97 chi nhánh địa phương. MSA có hạm đội xuồng ca nô của mình, trong đó ít nhất ba chiếc có trọng tải hơn 1.000 tấn.

Một phần khác của lực lượng hàng hải Trung Quốc là Lực lượng hải giám Trung Quốc (CMS), thuộc Tổng Cục Đại dương quốc gia. Lực lượng này cũng có ba hạm đội tàu nhỏ chính và sở hữu “300 xuồng ca nô, trong đó 30 chiếc có trọng tải trên 1.000 tấn”. Không ca nô nào trong số này trang bị vũ khí. CMS có trách nhiệm giám sát nơi mà Trung Quốc gọi là “biển gần”, đồng thời theo dõi tình trạng ô nhiễm, phá hoại môi trường và khai thác tài nguyên cũng như tiến hành các cuộc thăm dò đại dương học.

Giống như FLEC, CMS tiến hành tuần tra tại các vùng nước tranh chấp ở những nơi như biển Đông, nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong khi giữ cho các cuộc tranh chấp này “bản chất dân sự”. Mới đây, một tàu thăm dò của Việt Nam đang thăm dò dầu khí ở vị trí cách bờ biển Việt Nam 80 hải lý đã bị các tàu tuần tra Trung Quốc cắt cáp – một sự cố được cho là có liên quan đến các đơn vị của CMS. Cùng lúc các tàu của CMS được cho là đã tới vùng biển của Philippines, dựng các cột trụ trong khu vực này – một hành động vi phạm trắng trợn biên bản ghi nhớ của Trung Quốc với ASAN liên quan đến cách ứng xử trên biển Đông.

Lực lượng thứ tư là Lực lượng Bảo vệ bờ biển Trung Quốc (CCG), một lực lượng bán quân sự trực thuộc Bộ Công an nhưng gồm các thành viên lực lượng Cảnh sát vũ trang nhân dân (PAP). CCG được chia thành 20 đội tàu nhỏ, mỗi đội tương đương với một đơn vị cấp trung đoàn trong PLA. Các tàu của lực lượng này có trọng tải từ 130 – 1.500 tấn và đa số được trang bị vũ khí. Trong một số trường hợp, các tàu của CCG là tàu khu trục nhỏ cũ, do PLA-N chuyển giao. Nhiều khả năng giống như PAP, GGC sẽ có một vai trò trong thời chiến, phục vụ hậu cần cho PLA.

Dean Cheng is Research Fellow in Chinese Political and Security Affairs in the Asian Studies Center at The Heritage Foundation.

Còn tiếp….

    • Châu Giang dịch từ The Haritage Foundation
    • TUANVIETNAM.NET

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s