Ông Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng

Thông điệp đầu năm của Thủ tướng

Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, khởi động mạnh quá trình tái cấu trúc kinh tế, cắt giảm các công trình chưa cần thiết, tập trung nguồn lực cho các dự án tạo ra năng lực sản xuất… là những quyết sách của Chính phủ trong năm 2011.

VnExpress giới thiệu bài viết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân dịp đầu năm mới:

I. Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế

1. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, giai đoạn 2001 – 2010, chúng ta đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển. Mở rộng dân chủ trong kinh tế với việc ban hành và thực hiện luật doanh nghiệp, phát triển mạnh kinh tế dân doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải cách hành chính mà khâu trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; tham gia sâu rộng vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới; nhờ đó, đã phát huy được tiềm năng và nội lực của đất nước, tranh thủ được nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 – 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về kết quả đạt được cũng như những bất cập, yếu kém và rút ra những bài học sâu sắc từ thực tiễn.

Thủ tướng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: Chinhphu.vn

2. Chúng ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và biến động rất khó lường. Các xu hướng nổi trội là:

(1) Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ; hình thành nền kinh tế tri thức; sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu năng lượng, thân thiện với môi trường; phát triển kinh tế xanh. Đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường toàn cầu, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế trong từng nước cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước. Đón nhận quá trình này một cách tự nhiên hoặc chủ động lựa chọn tuỳ thuộc vào năng lực nội sinh và chính sách của mỗi nước.

(2) Toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu rộng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có tính cạnh tranh cao trở thành thách thức kinh tế lớn nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới.

(3) Vai trò ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi, nhất là sự phát triển mạnh mẽ cuả Ấn Độ và Trung Quốc làm thay đổi cán cân quyền lực kinh tế – chính trị trên thế giới. Với vị thế địa chiến lược trọng yếu, ASEAN hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nước thành viên và khẳng định vai trò chủ đạo trong một cấu trúc khu vực đang định hình. Tuy nhiên, khu vực này cũng là nơi tiềm ẩn những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nước ta cũng như các nước trong khu vực.

Sau khủng hoảng, quá trình phục hồi kinh tế thế giới diễn ra chậm chạp và đầy mâu thuẫn; khủng hoảng nợ công lan rộng và nguy cơ của cuộc chiến tranh tiền tệ chưa phải đã được loại trừ. Trong bối cảnh đó, sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn làm cho độ rủi ro và tính bất định tăng lên.

Song song đó, tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng mà nước ta là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, có thể là biến số lớn trong tiến trình phát triển của đất nước.

Chưa bao giờ bối cảnh quốc tế lại chi phối nhiều đến sự phát triển của nước ta với tất cả những thách thức và cơ hội to lớn như vậy. Chúng ta sẽ phải làm gì và ở vị thế nào trong sự vận động phức tạp này.

Dự thảo Chiến lược xác định các quan điểm làm căn cứ để lựa chọn mục tiêu và đề ra các định hướng phát triển cho giai đoạn 2011 – 2020 phù hợp với tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế, bảo đảm tính thống nhất với mục tiêu dài hạn trong dự thảo Cương lĩnh.

II. Bước tiến mới về tư duy phát triển

1. Về các quan điểm phát triển

Quan điểm phát triển bền vững trong dự thảo Chiến lược lần này mang một nội hàm mới, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nhanh với phát triển bền vững, coi phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; đặt yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng trưởng nhanh, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, đồng thời khắc phục tư tưởng chạy theo tốc độ mà không chú ý đúng mức đến chất lượng tăng trưởng.

Trong tiến trình đổi mới 25 năm qua, Đảng ta bắt đầu từ đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, nhằm giải phóng các nguồn lực của đất nước. Điều này là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, khi đổi mới kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, cần thiết phải tiến hành đồng thời đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị để thúc đẩy đổi mới toàn diện. Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng ta về bước đi và biện chứng phát triển của tiến trình đổi mới. Dự thảo Chiến lược nêu “đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”. Trọng tâm của đổi mới chính trị là hoàn thiện nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách nhiệm trong thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp ủy đảng; mở rộng dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội nhằm phát huy vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước, khả năng sáng tạo to lớn của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa mà cạnh tranh kinh tế diễn ra rất quyết liệt. Mỗi nước đều tìm cách khai thác tốt nhất các lợi thế so sánh sẵn có, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời, tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới. Tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa kinh tế là những lợi thế so sánh sẵn có, tuy rất quan trọng nhưng không phải là quyết định nhất. Thực tiễn đã khẳng định nguồn lực con người là yếu tố nội sinh năng động, quyết định lợi thế cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện khoa học công nghệ – sản phẩm trí tuệ của con người phát triển nhảy vọt trong thời đại chúng ta. Hơn nữa, mục tiêu phát triển kinh tế xét đến cùng là vì con người, cho con người. Con người phát triển toàn diện, có đời sống vật chất ấm no, đời sống tinh thần phong phú, có năng lực trí tuệ, phát huy mọi khả năng sáng tạo trong sự nhận thức được cái tất yếu để có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, vươn tới tự do. Dự thảo Chiến lược nêu quan điểm“phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước.

“Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, quan điểm này nhấn mạnh yêu cầu mới, quan trọng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất phải dựa vào trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, phản ánh xu thế khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm “phát triển nhanh hài hoà các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tăng tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết và định hướng nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã…”.

Kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn có các nguồn lực khác do Nhà nước sở hữu gồm ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên, dự trữ quốc gia… Thông qua các chính sách phát triển và cơ chế điều tiết, phân bổ hiệu quả, các nguồn lực này sẽ là nhân tố kích hoạt, định hướng việc thực hiện chính sách cơ cấu và sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Vì vậy, khi nói kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không chỉ nói riêng nguồn lực vật chất mà phải đặt nó trong sự tác động của chính sách, khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và cũng không chỉ nói đến vai trò của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế mà phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Điều đó cũng đòi hỏi phải nhận thức và định vị lại nội dung hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước.

Cùng với việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, dự thảo Chiến lược nhấn mạnh “Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”.

Từ hội nhập kinh tế, các nước đang mở rộng hội nhập sang các lĩnh vực khác như là một tiến trình khách quan. Để tích cực, chủ động và nâng cao hiệu quả của tiến trình hội nhập quốc tế, chúng ta phải “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Nhấn mạnh quan điểm này là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tiềm lực kinh tế của đất nước, lực lượng doanh nghiệp trong nước có mạnh, nền kinh tế mới vững, vị thế trong hội nhập mới cao. Càng hội nhập có hiệu quả, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

2. Về mục tiêu Chiến lược và các khâu đột phá

Dự thảo Chiến lược đề ra mục tiêu tổng quát “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.

Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể nêu trong Dự thảo thể hiện sự thống nhất giữa kinh tế, xã hội với chính trị, quốc phòng, an ninh; gắn kết nhiệm vụ trung hạn với yêu cầu phát triển dài hạn, trở thành “Cương lĩnh thứ hai của Đảng” nhằm triển khai nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thực hiện Cương lĩnh.

Để đạt được mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải chọn đúng các khâu đột phá – những khâu hiện đang là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển mà nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo ra những tiền đề giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Dự thảo lựa chọn ba đột phá:

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Ưu điểm của kinh tế thị trường là phân bổ nguồn lực một cách hợp lý theo tín hiệu thị trường và do đó làm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế. Kinh tế thị trường chỉ có thể được hoàn thiện khi các yếu tố, các loại thị trường được hình thành đồng bộ trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Cạnh tranh là đặc tính vốn có của kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, nâng cao năng suất – yếu tố xét đến cùng quyết định thắng lợi của một phương thức sản xuất, một chế độ xã hội. Kinh tế thị trường luôn được vận hành thông qua các thể chế và thủ tục hành chính. Vì vậy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Mặt khác, kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách cơ cấu hợp lý, sử dụng hiệu quả các công cụ điều tiết nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường.

Hai là, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Con người là chủ thể sản xuất ra mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Con người làm ra thể chế, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược. Đây vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài. Đặt yêu cầu gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung mới, thể hiện tính hướng đích của phát triển nguồn nhân lực. Chỉ với nguồn nhân lực có khả năng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý mới tạo ra năng suất cao để phát triển nhanh và bền vững.

Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Kết cấu hạ tầng là “đường dẫn” cho các yếu tố sản xuất dịch chuyển và là điều kiện để phát triển văn hóa xã hội trên các vùng của đất nước. Sự yếu kém của kết cấu hạ tầng đang là cản trở lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh, không phát huy được tác động hội tụ và lan tỏa của các yếu tố nội sinh, không khai thác được vị trí địa kinh tế nằm trong chuỗi cung toàn cầu của nước ta và là nguy cơ làm gia tăng chênh lệch về mức sống giữa các vùng của đất nước. Trong 10 năm tới, chúng ta phải huy động các nguồn lực để thực hiện khâu đột phá này.

3. Về các định hướng phát triển

Trên cơ sở các quan điểm và mục tiêu tổng quát nêu trên, dự thảo Chiến lược đề ra 12 định hướng phát triển, tạo nên một hệ thống đồng bộ các giải pháp lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại như một chỉnh thể của phát triển bền vững; bảo đảm gắn kết hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Dưới đây, xin phân tích một số nội dung mới.

Có thể nói tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển các lĩnh vực xã hội hài hòa với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là những tư tưởng quan trọng nhất cũng là những nét mới trong tư duy phát triển.

Tái cấu trúc nền kinh tế không phải chỉ được đặt ra khi có khủng hoảng. Quá trình này diễn ra một cách tiệm tiến hoặc nhảy vọt theo sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự dịch chuyển lợi thế cạnh tranh giữa các nước. Nội dung và nhịp độ của tái cấu trúc phụ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, tái cấu trúc nền kinh tế phải diễn ra đồng thời trên các nội dung sau:

(1) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân. Mặt khác, phải hết sức coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân.

(2) Tái cấu trúc các ngành sản xuất và dịch vụ, trọng tâm là phát triển công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất; gắn kết chặt chẽ giữa áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất; giữa sản xuất, chế biến với phân phối trong một chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị đó; giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới.

(3) Tái cấu trúc các doanh nghiệp, tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh kinh tế dân doanh. Song song đó, mỗi doanh nghiệp phải tự tái cấu trúc để thích ứng với sự thay đổi về công nghệ và thị trường nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả.

(4) Coi trọng hơn thị trường trong nước. Phát triển mạnh hệ thống phân phối của các doanh nghiệp nước ta trên thị trường nội địa để có thể làm chủ thị trường này, tạo cơ sở vươn xa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do.

(5) Điều chỉnh cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tư. Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu nhất, đồng thời đẩy mạnh huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch. Hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường.

Để thực hiện các nội dung tái cấu trúc trên đây, phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và nguồn lao động chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại. Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với nhau và tích hợp tác động, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh. Trong đó, khoa học và công nghệ là động lực quyết định; con người đóng vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, thực hiện chức năng quản lý. Có kỹ năng quản lý hiện đại mới phát huy tối đa tác động của hai nhân tố trên.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt nhưng không thể hành động theo ý muốn mà phải tạo ra các tiền đề và điều kiện cho quá trình chuyển đổi. Những tiền đề và điều kiện đó chính là các đột phá chiến lược. Chính vì vậy, trong thời kỳ chiến lược tới, nhất là trong những năm đầu, phải tập trung giải quyết các khâu đột phá, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu, theo hướng chuyển mạnh sang chiều sâu.

Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là công việc đòi hỏi sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của cộng đồng doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò mở đường và hỗ trợ còn doanh nghiệp là chủ thể, lực lượng chủ công của tiến trình này.

Văn hóa xã hội là lĩnh vực rộng lớn có nhiều nội dung gắn kết tương tác lẫn nhau, tác động mạnh đến kinh tế và mọi mặt của đời sống, đến từng con người và cả cộng đồng. Văn hóa hình thành nên hệ giá trị của một quốc gia, tạo ra bản sắc của một dân tộc, là yếu tố quan trọng trong tư duy phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”. Dự thảo Chiến lược xác định “phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa xã hội hài hòa với phát triển kinh tế…, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển”, đặt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là một điểm nhấn của dự thảo Chiến lược, góp phần khắc phục những bất cập, yếu kém, tạo bước phát triển mới trên các lĩnh vực văn hoá, xã hội.

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân, đã có những văn bản quy định về một số chính sách cụ thể. Dự thảo Chiến lược lần này đã đề cập một hệ thống các quan điểm và chính sách tương đối đồng bộ và toàn diện làm cơ sở cho việc phát triển một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội hiệu quả, bền vững.

Thể hiện nhận thức đầy đủ hơn về nguy cơ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với sự phát triển bền vững, dự thảo Chiến lược trình bày phương hướng cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể về bảo vệ và cải thiện môi trường, nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, địa phương, trong từng dự án; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và phát triển các dịch vụ môi trường. Chủ động triển khai chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.

4. Về nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước

Để thực hiện thắng lợi Chiến lược với những nội dung chủ yếu nêu trên, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Dự thảo Chiến lược đã thể hiện nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa ba thành tố của cơ chế này trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ, Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Trong cơ chế đó, nhân dân ủy nhiệm cho Nhà nước thực hiện quyền lực quản lý với chức năng cơ bản là tạo môi trường cho sự phát triển và phục vụ sự phát triển. Phải đặt yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dự thảo xác định các chức năng quản lý và kiến tạo phát triển của Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đề ra các giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước; nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Cùng với việc hoàn thiện các thiết chế thực hiện dân chủ, tăng cường dân chủ trực tiếp, Dự thảo đề cao vai trò phản biện xã hội, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước các cấp. Thông qua phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình mà góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý.

vnexpress

 

Ông Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng

  26/07/2011

– Với 94% số phiếu tán thành (470/500 đại biểu), ông Nguyễn Tấn Dũng đã được Quốc hội tiếp tục bầu làm Thủ tướng, nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, quê quán Cà Mau, là Thủ tướng đương nhiệm.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: Minh Thăng

Ông tham gia hoạt động trong quân đội từ nhỏ. Sau đó trong suốt thời gian công tác tại tỉnh Kiên Giang ông đã lần lượt giữ các chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Bí thư Tỉnh ủy.
Năm 1995, ông bắt đầu làm việc tại các cơ quan trung ương và lần lượt giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương…

Từ trái qua phải: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ông là ủy viên Trung ương Đảng các khóa 6, 7, 8, 9, 10,11; ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, 9, 10, 11.

Trước khi được bầu làm Thủ tướng năm 2006, ông đã liên tục đảm nhiệm cương vị Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ khóa 10, 11. Năm 1998-1999, ông từng kiêm nhiệm chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ông Nguyễn Tấn Dũng còn là Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

Bà Nguyễn Thị Doan đã được bầu vào cương vị Phó Chủ tịch nước với tỷ lệ 95,2% (476/500 phiếu).

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. Ảnh: Lê Anh Dũng

Bà Nguyễn Thị Doan, 60 tuổi, quê ở xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam, là Phó chủ tịch nước nhiệm kỳ 2006-2011; đại biểu Quốc hội khóa 12, 13. Bà là giáo sư, tiến sĩ kinh tế.

Ông Trương Hòa Bình tiếp tục giữ cương vị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với 96,2% số phiếu (481/500 phiếu).

Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ông Trương Hòa Bình, 56 tuổi, quê ở Long Đước Đông, Cần Giuộc, Long An, là thạc sĩ luật. Ông là Chánh án TAND nhiệm kỳ 2006-2011; đại biểu Quốc hội các khóa 10,11,12, 13.

Tân Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là ông Nguyễn Hòa Bình. Ông nhận được 93,8% phiếu bầu (469/500 đại biểu).

Tân Viện trưởng VKSNDTC Nguyễn Hòa Bình

Ông Nguyễn Hòa Bình, quê ở xã Hành Đức, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Ông Bình năm nay 53 tuổi, là phó giáo sư, tiến sĩ luật, đại biểu Quốc hội khóa 13.

Ông từng là Thiếu tướng, Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an), được điều động luân chuyển về giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi vào tháng 5/2008. Sau đó, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ tháng 6/2010.

Sau khi bầu xong các chức danh trên, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã đọc tờ trình về lãnh đạo cấp phó cũng như số lượng ủy viên các Ủy ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội.

Tiểu sử Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

– Ngày sinh: 17/11/1949. Dân tộc Kinh
– Quê quán: Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
– Nơi ở hiện nay: 55 Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội
– Trình độ học vấn: Đại học.

– Trình độ chuyên môn: Cử nhân luật.

– Ngày vào Đảng: 10/6/1967. Ngày chính thức: 10/3/1968.
– Khen thưởng: Huân chương kháng chiến hạng 1; 2 Huân chương Chiến công hạng 3; 6 Danh hiệu Dũng sĩ; Huân chương Chiến sĩ giải phóng 1, 2, 3; Huân chương Hữu nghị hạng đặc biệt của Nhà nước – Hoàng gia Campuchia; Huân chương ISALA và Huân chương Vàng quốc gia của Nhà nước CHDCND Lào.
– Kỷ luật: Không
– Uỷ viên Trung ương Đảng khoá 6, 7, 8, 9, 10, 11.
– Uỷ viên Bộ Chính trị khoá 8, 9, 10, 11.
– Đại biểu Quốc hội khoá 10, 11, 12,13.

Tóm tắt quá trình công tác:

Từ 11/1961 – 9/1981: Tham gia Quân đội, làm văn thư, liên lạc, cứu thương, Y tá, Y sĩ và Bổ túc chương trình Phẫu thuật ngoại khoa của Bác sĩ Quân y. Và đã qua các cấp bậc – chức vụ: Tiểu đội bậc trưởng, Trung đội bậc trưởng, Đại đội bậc phó, Đại đội bậc trưởng – Đội trưởng Đội phẫu thuật, Đại đội trưởng và Chính trị viên trưởng Đại đội Quân y (Bí thư Chi bộ Đảng) thuộc Tỉnh đội Rạch Giá.
Học khoá Sĩ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn – Trung đoàn và đảm nhiệm các nhiệm vụ: Thượng uý – Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Bộ binh 207 (Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn) và Đại uý – Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Bộ binh 152 (Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn) chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Campuchia. Thiếu tá – Trưởng Ban cán bộ (Phó Bí thư Đảng uỷ Phòng Chính trị) của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang.
Từ 10/1981 – 12/1994: Học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội). Tỉnh uỷ viên – Phó Ban tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang. Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Kiên Giang – Bí thư huyện uỷ Hà Tiên. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Kiên Giang. Phó Bí thư Tỉnh uỷ – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Đại biểu HĐND tỉnh. Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang, Bí thư Đảng uỷ Quân sự tỉnh, Đảng uỷ viên Đảng uỷ Quân khu 9.

Từ 1/1995 – 5/1996: Thứ trưởng Bộ Công an, Đảng ủy viên – Đảng ủy Công an Trung ương.

Từ 6/1996 – 8/1997: Uỷ viên Bộ Chính trị. Trưởng Ban kinh tế Trung ương Đảng và phụ trách công tác Tài chính của Đảng.

Từ 9/1997 – 6/2006: Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ – Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ. Kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nguyên; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trưởng Ban chỉ đạo TW về Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước; Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về các công trình trọng điểm quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo TW về phòng chống tội phạm; Chủ tịch Hội đồng đặc xá Trung ương và Trưởng Ban chỉ đạo một số công tác khác.
Năm 1998 -1999: kiêm nhiệm nhiệm vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Bí thư Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước.

Từ 7/2006 đến nay: Thủ tướng Chính phủ – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ; Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng; Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Chủ tịch Hội đồng Thi đua – khen thưởng TƯ, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về giáo dục, Trưởng Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Trưởng Tiểu ban xây dựng Chiến lược Phát triển KT-XH 10 năm (2011-2020).

 

Lê Nhung

Bài phát biểu quan trọng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (25/07/2011)

Nguồn: daidoanket.vn
Chiều nay (25/7), với 487 phiếu tán thành (chiếm 97,4%), Quốc hội đã bầu ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư giữ chức Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Trước Quốc hội, tân Chủ tịch nước đã có bài phát biểu quan trọng, toàn văn như sau:

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Kính thưa các đồng chí nguyên lãnh đạo đảng, Nhà nước, các đồng chí lão thành cách mạng,
Thưa các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước,

Tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm bầu tôi giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII. Tôi nhận thức sâu sắc rằng, đây là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề mà đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó. Tôi xin hứa với Quốc hội, đồng bào, đồng chí nguyện đem hết sức mình phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện nghiêm túc đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được Hiến pháp và pháp luật quy định, không ngừng học tập nâng cao trình độ, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liên, chính, chí công, vô tư theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; phối hợp và cộng tác chặt chẽ với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân, nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội và rất mong luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của cả hệ thống chính trị, của đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài để tôi hoàn thành trọng trách được giao, không phụ lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII vừa qua, trong bối cảnh có những khó khăn, thách thức to lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố, chính trị- xã hội ổn định, độc lập chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao. Trong những thành tựu đó, có đóng góp quan trọng của đồng chí Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Tôi xin chúc mừng đồng chí đã hoàn thành trách nhiệm cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, kính chúc đồng chí và gia đình luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc, mong rằng với tri thức, kinh nghiệm, uy tín của mình, đồng chí tiếp tục cóa những đóng góp cho đất nước và hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Thưa đồng bào, đồng chí,

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới. Trên cương vị công tác của mình, tôi sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cùng với các tổ chức trong hệ thống chính trị nỗ lực phấn đấu quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ lớn sau đây:

– Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý có hiệu lực, hiệu quả cao; sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi pháp luật. Phát huy dân chủ, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đất nước; đồng thời tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, giữ nguyên kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy nhà nước và xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; đẩy mạnh hơn nữa cải cánh hành chính, cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức và công dân.

– Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

– Tập trung phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường đồng bộ với phát triển kinh tế, đặc biệt là giải quyết các vấn đề gây bức xúc xã hội trong các lĩnh vực này. Quan tâm giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo bền vững; đổi mới chính sách phân phối, tiền lương, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; thu hẹp chênh lệch về thu nhập, đời sống giữa các vùng, các tầng lớp nhân dân; bảo đảm an sinh xã hội ; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học công nghệ, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

– Chăm lo củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ; là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách niệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước; kiên trì giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với các nước liên quan bằng thương lượng hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 và nguyên tắc ứng xử của khu vực; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

– Củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp xã hội, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Thưa đồng bào, đồng chí,

Trên con đường phát triển, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, với bản lĩnh và trí tuệ của con người Việt Nam được hun đúc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đất nước ta nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về việc Đảng, Nhà nước, nhân dân đã tin cậy giao cho tôi trọng trách lớn.

Kính chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí lão thành cách mạng, các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý sức khoẻ, hạnh phúc.

Chúc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XIII thành công tốt đẹp

Xin trân trọng cảm ơn.

Chủ tịch nước: Chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm

Cập nhật lúc 25/07/2011

– Ngay sau khi nhậm chức Chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi cởi mở với báo chí về chủ quyền biển đảo, giải quyết tranh chấp Biển Đông và chuyện phòng chống tham nhũng.

Là nước nhỏ nên phải dựa vào sức mạnh tập thể

Trong phát biểu nhậm chức, Chủ tịch nước có đề cập đến việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. Ngay tại kỳ họp này, một số đại biểu cũng đề nghị Quốc hội nên có nghị quyết về Biển Đông, vậy quan điểm của Chủ tịch nước về vấn đề này như thế nào?

– Trong chương trình này, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội về Biển Đông. Còn có ra nghị quyết không thì với thẩm quyền của mình, Quốc hội sẽ quyết định.

Văn bản, giấy tờ về phòng chống tham nhũng rất nhiều. Vấn đề là phải hành động – Chủ tịch nước chia sẻ với báo giới. Ảnh: Lê Anh Dũng

Riêng cá nhân tôi cho rằng việc ra nghị quyết hay không còn phụ thuộc vào tình hình và tùy thuộc vào ý chí của các đại biểu.

Chỉ có điều chắc chắn là sẽ có báo cáo của Chính phủ theo yêu cầu của Quốc hội.

Nhưng theo Chủ tịch nước thì thời điểm này đã phù hợp để Quốc hội ra nghị quyết về Biển Đông chưa?

– Vấn đề này do Quốc hội chứ không phải là do Chủ tịch nước. Nhưng các bạn có hỏi là với tư cách đại biểu thì tôi xin nói, lúc đó, khi  tới chương trình Quốc hội bàn về Biển Đông, tôi sẽ thể hiện thái độ của mình. Các bạn cứ yên tâm một điều là lúc đó tôi sẽ có trao đổi về vấn đề Biển Đông.

Theo quan điểm của Chủ tịch nước, Việt Nam cần làm gì để vừa giữ vững chủ quyền biển đảo vừa đảm bảo được vị thế độc lập khi chúng ta là láng giềng một nước lớn?

– Như tôi đã phát biểu trước Quốc hội chiều nay, vấn đề chủ quyền biển đảo với bất cứ quốc gia nào cũng là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Bất cứ quốc gia nào dù to, nhỏ cũng đều có nhận thức chung như vậy.

Để giữ vững chủ quyền biển đảo, theo tôi có ba cơ sở quan trọng: luật pháp, lịch sử và chiếm hữu, khai thác thực tế.

Trong vấn đề luật pháp có luật quốc tế và quốc nội. Công ước luật biển năm 1982 là thành quả đấu tranh lâu dài của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nhỏ. Ngày xưa, lãnh hải chỉ có 3 hải lý,  sau đó mở rộng ra là 12 hải lý rồi vùng đặc quyền kinh tế là 200 hải lý.

Nước lớn có vị thế khác, nước nhỏ có vị thế khác. Chúng ta là nước nhỏ nên phải dựa vào sức mạnh của tập thể, của cộng đồng, của Công ước luật biển 1982 để bảo vệ chủ quyền biển đảo, vùng đặc quyền kinh tế. Đó là quan điểm dứt khoát.

Đương nhiên, trên cơ sở Công ước, chúng ta phải luật hóa bằng luật quốc nội, để xác lập quyền chiếm hữu biển đảo về mặt pháp lý cũng như về thực địa.

Chống tham nhũng: Phải hành động thôi

Người dân rất quan tâm đến quyết tâm chống tham nhũng của lãnh đạo cấp cao nhiệm kỳ mới. Vậy Chủ tịch nước có xác định đây là một nhiệm vụ trọng tâm?

–  Những vấn đề chung thì tôi đã nói trong bài phát biểu trước Quốc hội.

Riêng về phòng chống tham nhũng, đây là vấn đề rất bức xúc của cử tri cả nước.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng chống tham nhũng thì đã rõ, nghị quyết và luật pháp đều đã có, vấn đề là hành động thôi.

Đại hội Đảng lần thứ XI cũng đã đánh giá công tác này có một số kết quả nhất định nhưng chưa đạt yêu cầu đề ra. Nên theo tôi, Đảng, Nhà nước phải có trách nhiệm rất lớn trong lãnh đạo, điều hành đất nước, đặc biệt là trong mặt trận phòng chống tham nhũng để đáp ứng nguyện vọng của đồng bào cả nước.

Tôi biết chắc rằng từng đại biểu Quốc hội, và rất nhiều đại biểu Quốc hội cũng đã hứa hẹn tích cực phòng chống tham nhũng, lãng phí để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Tôi hy vọng là các đại biểu sẽ không chủ quan trước lời hứa này, còn nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, giám sát chúng tôi, trong đó có cá nhân tôi, để góp phần thúc đẩy việc phòng chống tham nhũng của khóa này có kết quả, ít ra là tốt hơn khóa vừa rồi.

Cụ thể chúng ta sẽ thực thi nhiệm vụ luật pháp nghiêm minh hơn như thế nào hoặc có cơ chế gì cụ thể hơn để làm tốt hơn công tác phòng chống tham nhũng, thưa ông?

– Nghị quyết Trung ương 3 khóa X là một quyết tâm rất lớn của Đảng. Trước đó đã có Nghị quyết phòng chống tham nhũng, thực hành chống lãng phí hết sức rõ ràng, không thiếu điều gì. Quốc hội cũng cho phép thành lập Ban chỉ đạo ở cấp tỉnh và TƯ.

Sắp tới, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng phải năng nổ và hoạt động tích cực hơn. Tôi cũng đã nói khi tiếp xúc với cử tri là cần phải rà soát lại cơ chế, chính sách xem còn gì sơ hở nữa không, nếu cần thiết thì phải sửa.

Mặt khác,  tổ chức bộ máy và chỉ đạo ở từng khâu nếu thấy cái gì còn yếu, không phù hợp thì phải sửa.

Nói tóm lại, phòng chống tham nhũng là phải hành động. Văn bản, giấy tờ rất nhiều, hết sức đầy đủ, không cần tốn công sức nhiều lắm để nghiên cứu nữa. Vấn đề là phải hành động một cách kiên quyết như gửi gắm của đồng bào cử tri cả nước .

Chủ tịch nước suy nghĩ gì về bức xúc của cử tri quanh những “con sâu làm rầu nồi canh”?

– Đây là phát biểu của một đại biểu Quốc hội, một cựu chiến binh bức xúc về tham nhũng. Lâu nay ông bà nói “con sâu làm rầu nồi canh”, nhưng đồng chí đó nói bây giờ không phải một con sâu mà nhiều con sâu.

Đồng chí đó hỏi tôi là phải làm thế nào đây, tôi đã trả lời: “Đúng là ông bà lâu nay nói chỉ một con sâu đã làm rầu nồi canh. Bây giờ đồng chí nói nhiều con sâu thì đúng là rất nguy hiểm. Đồng chí và tất cả chúng ta phải ra sức mà chống cho tốt, nếu phòng chống mà không tốt, trở thành một bầy sâu thì rất nguy hiểm cho đất nước này”.

Nghị quyết của Đảng đã có, luật pháp đã đầy đủ, bây giờ phải hành động thôi.

          Nhất thể hóa: Ý kiến chưa nhất trí tuyệt đối

Có ý kiến đề nghị nhất thể hóa, tức là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước. Quan điểm của Chủ tịch nước về vấn đề này?

Chuyện có nhất thể hóa hai chức danh này hay không là vấn đề liên quan đến công tác bố trí và sử dụng cán bộ của Đảng lâu nay. Các đồng chí biết là các kỳ Đại hội Đảng đã bàn chuyện này, kể cả Đại hội vừa rồi, các cấp từ xã, huyện đến Trung ương cũng bàn. Nhưng độ chín để đi đến quyết định hai chức danh này là một thì chưa có sự nhất trí tuyệt đối. Vì vậy hiện nay hai chức danh này vẫn là hai người như các đồng chí đã thấy.

 

Lê Nhung (ghi)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s