Kêu gọi phi quân sự hóa Trường Sa

chủ nhật, 17 tháng 7, 2011

Cựu Tổng thống Philipines, ông Fidel Ramos kêu gọi xây dựng khối châu Á – Thái Bình Dương và phi quân sự hoá Trường Sa.

Ngày 17/7/2011, trong khi các báo mạng ngoài luồng ở Việt Nam và thông tấn nước ngoài tiếp tục tìm hiểu về số phận những thanh niên, trí thức biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội và TPHCM bị công an bắt, có tiếng nói từ Philippines đề nghị lập cơ chế cứu vãn tình hình ở Biển Đông.

Trong bài cùng ngày đăng trên một số trang tiếng Anh quốc tế, cựu Tổng thống Philippines, ông Fidel Ramos nhắc lại thực trạng không có giải pháp mang tính định chế cho vùng biển mà ông nói “nguy cơ xung đột tăng lên từng ngày”.

Nhắc lại các vụ ông cho là phía Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải và không phận Philippines ngoài khơi Palawan, ông Ramos đặt câu hỏi có phải sẽ nổ ra xung đột, với một bên là “Philippines và Việt Nam”, bên kia là Trung Quốc?

Vị cựu lãnh đạo Philippines cũng nhắc lại rằng năm 1994, khi ông Lê Đức Anh là chủ tịch Việt Nam, nước lãnh đạo luân phiên của ASEAN, ông Ramos đã đề nghị với ASEAN rằng cần phi quân sự hóa vùng Trường Sa để tạo niềm tin.

Cựu Tổng thống Philippines nêu rõ việc phải đưa Công ước luật biển của LHQ tức UNCLOS làm nền tảng để giải quyết mọi khác biệt trong việc kiểm soát, khai thác vùng biển xung quanh.

 

Công nhân đứng nhìn tàu chiến USS Chung Hoon của Hoa Kỳ đang chuẩn bị tập trận chung cùng quân đội PhilippinesHoa Kỳ và Philippines vừa có đợt tập trận chung sau những căng thẳng trên Biển Đông

 

Cựu Tổng thống Philipines, ông Fidel Ramos kêu gọi xây dựng khối châu Á – Thái Bình Dương và phi quân sự hoá Trường Sa.

Ngày 17/7/2011, trong khi các báo mạng ngoài luồng ở Việt Nam và thông tấn nước ngoài tiếp tục tìm hiểu về số phận những thanh niên, trí thức biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội và TPHCM bị công an bắt, có tiếng nói từ Philippines đề nghị lập cơ chế cứu vãn tình hình ở Biển Đông.

Trong bài cùng ngày đăng trên một số trang tiếng Anh quốc tế, cựu Tổng thống Philippines, ông Fidel Ramos nhắc lại thực trạng không có giải pháp mang tính định chế cho vùng biển mà ông nói “nguy cơ xung đột tăng lên từng ngày”.

Nhắc lại các vụ ông cho là phía Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải và không phận Philippines ngoài khơi Palawan, ông Ramos đặt câu hỏi có phải sẽ nổ ra xung đột, với một bên là “Philippines và Việt Nam”, bên kia là Trung Quốc?

Vị cựu lãnh đạo Philippines cũng nhắc lại rằng năm 1994, khi ông Lê Đức Anh là chủ tịch Việt Nam, nước lãnh đạo luân phiên của ASEAN, ông Ramos đã đề nghị với ASEAN rằng cần phi quân sự hóa vùng Trường Sa để tạo niềm tin.

Cựu Tổng thống Philippines nêu rõ việc phải đưa Công ước luật biển của LHQ tức UNCLOS làm nền tảng để giải quyết mọi khác biệt trong việc kiểm soát, khai thác vùng biển xung quanh.

‘Niềm tin’

Nhắc tới các phát biểu tại diễn đàn Bác Ngao, Hải Nam của lãnh đạo Trung Quốc về nhu cầu gìn giữ hòa bình ở Biển Đông mà bản tiếng Anh trong bài của ông Ramos gọi là biển Nam Trung Hoa, tác giả nói ông tin rằng “các lãnh đạo Trung Quốc nói như thể họ cũng muốn hòa bình”.

Ông Ramos cũng tin rằng các chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đều mong muốn sự ổn định, hòa bình cho vùng biển này.

Ông Fidel FamosÔng Fidel Famos quan ngại về căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Vì thế, ông đề nghị lập ra Khối châu Á – Thái Bình Dương, hay Pact Asia-Pacifica để làm khuôn thước cho các thương thảo chung về tranh chấp.

Điều này có nghĩa là ông Ramos muốn Hoa Kỳ hiện diện trong vùng, và không đồng ý với đàm phán song phương.

Để nói về nhu cầu xây dựng niềm tin, nhất là với Trung Quốc, vị cựu lãnh đạo Philippines cũng kể lại một câu chuyện.

Ông nói hồi tháng 6 năm nay, ông đọc một bài diễn văn trước 5000 khách Philippines và các quan chức Trung Quốc nhân ngày Hữu Nghị hai nước, kỷ niệm 36 năm lập quan hệ ngoại giao.

Nhưng cùng ngày, ông viết, các tựa lớn trên báo chí Trung Quốc không tiếc lời công kích Philippines nêu chủ quyền ở Trường Sa (Spratlys).

Theo ông Ramos, với đà căng thẳng này, câu chuyện biển Nam Trung Hoa “gần như chắc chắn sẽ chiếm phần trung tâm của nghị trình Diễn đàn ASEAN tại Bali” tuần tới.

‘Hậu quả nghiêm trọng’

Trở lại với Pact Asia-Pacifica, ông Ramos nói Hoa Kỳ cần được đón chào, và chính khối châu Á -TBD này có thể sẽ đóng vai trò thay thế khối Pact Americana của người Mỹ trong vòng 5-10 năm nữa.

Tuy trong bài viết không đề cập tới khối Trung Hoa – Pact Sinica – như một số giới từng nêu, ông Ramos trình bày ra viễn kiến về một khu vực xuyên Thái Bình Dương, rộng hơn, bao trùm hơn, với Trung Quốc một phía, Hoa Kỳ một phía và các nước ASEAN ở giữa.

Có vẻ như ông Ramos muốn nói tới mục tiêu là cần tránh cục diện “cân bằng thế lực”, tức “balance of power” mà nhiều học giả nói đến như cuộc chơi Hoa Kỳ – Trung Quốc để lập ra cơ chế “chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng” (burden – sharing).

Tàu hải quân MỹHai tàu khu trục trang bị hỏa tiễn dẫn đường neo đậu trong thời gian tập trận tại cảng quân sự ở Philippines tháng 6/2011.

Hiện chưa có phản ứng gì về sáng kiến của ông Fidel V. Ramos, muốn tạo bước đi mở ra một diễn đàn đa phương, liên vùng để có ra cơ chế giải quyết tranh chấp biển đảo.

Cùng ngày 17/7, các báo khu vực đăng lại bài trên Jakarta Post của ông Bambang Hartadi Nurgono, nhà nghiên cứu tại đại học University of Indonesia nêu ra nhu cầu đưa Trung Quốc vào thảo luận đa phương với ASEAN về biển đảo.

Nhưng mới hôm qua, 16/7, báo China Daily trong mục Ý kiến có bài của tác giả Vương Hối đả kích mạnh các nước láng giềng Philippines và Việt Nam đang “đe dọa Trung Quốc”.

Không nhắc lại các hoạt động của phía Trung Quốc trên biển Đông Nam Á gần đây, gây ra phản đối tại Việt Nam và Philippines, tác giả chỉ nói là Trung Quốc có cơ sở lịch sử lâu đời về chủ quyền tại đây là chính các nước kia đang có hoạt động quân sự cùng Hoa Kỳ, gây ra căng thẳng.

BBC

 

Hải quân Việt-Mỹ bắt đầu hoạt động chung

Đại tá Nguyễn Văn Lâm, Phó Tư lệnh vùng 3 hải quân, chào đón Chuẩn đô đốc Tom Carney

Tin cho hay đợt hoạt động chung giữa hải quân Hoa Kỳ và hải quân Việt Nam đã bắt đầu sáng thứ Sáu 15/07 tại Đà Nẵng.

Ba tàu hải quân Mỹ, bao gồm tàu khu trục USS Chung–Hoon (DDG 93), tàu USS Preble (DDG 88) và tàu Giải cứu và Cứu hộ USNS Safeguard (ARS-50) đã cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng, bắt đầu đợt hoạt động kéo dài tới ngày 21/07.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho hay, tham gia các hoạt động giao lưu và tập luyện chung với hải quân Việt Nam bên cạnh ba chiến hạm nói trên còn có thủy thủ của Lực lượng Đặc nhiệm 73, Tư lệnh Lực lượng Hậu cần Tây Thái Bình Dương, và Đội lặn và Cứu hộ Lưu động.

Riêng thủy thủ đoàn của ba tàu chiến đã là gần 700 người, kể cả dân sự.

Đứng đầu phía Mỹ trong hoạt động này là Chuẩn đô đốc Tom Carney, Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 73 và Tư Lệnh, Lực lượng Hậu cần Tây Thái Bình Dương.

Trước chuyến thăm, quan chức hai bên đưa ra các thông tin với lời lẽ cẩn trọng.

Việt Nam nhấn mạnh đây chỉ là ‘hoạt động thường kỳ và đã được định sẵn’, cho dù nó diễn ra trong bối cảnh gia tăng bất đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc tại khu vực Biển Đông, khiến nhiều người bình luận rằng đây là hành động ‘tìm đối trọng’ của Việt Nam.

Các thông cáo từ phía Mỹ cũng chỉ gọi đây là “hoạt động giao lưu hải quân” và các cuộc huấn luyện như về cứu hỏa, hoa tiêu, lặn và cứu hộ… ngày 18/07-19/07 không cho báo giới tiếp cận quan sát và đưa tin.

Trung Quốc đã từng chỉ trích hoạt động chung lần này giữa hải quân Mỹ và Việt Nam, nói đáng ra nó phải được lên kế hoạch lại vì tình hình phức tạp trong khu vực.

Tăng cường quan hệ

Thông cáo từ Đại sứ quán Hoa Kỳ hôm 15/07 nói chương trình hợp tác “sẽ tập trung vào các sự kiện phi tác chiến, các trao đổi kỹ năng trong lãnh vực điều khiển và bảo trì tàu”, cùng với các dự án hành động dân sự y tế và nha khoa, các chuyến thăm tàu, các buổi biểu diễn âm nhạc, các dự án cộng đồng và các sự kiện thể thao.

Sẽ không có hoạt động tập trận hay bắn đạn thật.

Dù vậy, sự hiện diện của ba tàu hải quân Hoa Kỳ, trong đó có khu trục hạm hàng đầu Chung-Hoon, ngoài khơi Đà Nẵng cũng gửi đi thông điệp rằng Mỹ vẫn duy trì vai trò cường quốc hải quân tại châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời quyết tâm phát triển quan hệ quân sự với các nước nhỏ hơn trong khu vực.

Lính biên phòng Việt Nam tại Đà Nẵng, đằng sau là USS Chung-HoonTàu chiến Hoa Kỳ sẽ ở Việt Nam trong thời gian bảy ngày

Chuẩn đô đốc Tom Carney nói với các nhà báo có mặt tại lễ đón ở cảng Tiên Sa sáng thứ Sáu: “Chúng tôi đã hiện diện ở Tây Thái Bình Dương và Biển Đông 50-0 năm nay, từ thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần II”.

“Chúng tôi sẽ duy trì sự hiện diện nhiều thập niên nay, và không hề có ý định từ bỏ các hoạt động như vậy.”

Trong những năm gần đây, hải quân Mỹ đã có nhiều chuyến thăm đến Việt Nam.

Năm 2009, các sỹ quan Việt Nam được mời ra thăm hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74) đậu ở ngoài khơi.

Tàu tiên phong của Hạm đội 7 USS Blue Ridge (LCC 19) và tàu khu trục USS Lassen (DDG 82) do hạm trưởng Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt, chỉ huy đã thăm Việt Nam vào tháng 11/2009.

Đại sứ quán Mỹ nói năm 2010, đoàn cán bộ Việt Nam đã thăm tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) trong khi tàu USS John S. McCain (DDG 56) thăm Đà Nẵng. Tàu bệnh viện USNS Mercy cũng thăm Việt Nam vào tháng 5/2010 theo chương trình hỗ trợ nhân đạo đối tác Thái Bình Dương (Pacific Partnership).

Tàu hải quân Mỹ cũng được sửa chữa tại Việt Nam, như tàu USNS Safeguard (T-ARS 50) đã được sửa chữa tại Sài Gòn vào tháng 8-9/ 2009; và tàu USNS Richard E. Byrd (T-AKE 4) đã được sửa chữa tại nhà máy đóng tàu Cam Ranh, cảng Quốc Tế Ba Ngòi, vịnh Vân Phong vào tháng 2-3/2010.

BBC

 

Hình ảnh đầu tiên về 3 chiến hạm Hải quân Mỹ vừa cập cảng Tiên Sa

(15/07/2011 14:26:02) – Sáng ngày 15/7, Đội 3 tàu USS Chung-Hoon (DDG-93), USS Preble và USNS Safeguard thuộc Lực lượng đặc nhiệm 73, Tự lệnh Hậu cần Tây Thái Bình Dương, Hải quân Hoa Kỳ đã cập cảng Tiên Sa chính thức bắt đầu chuyến thăm hữu nghị thành phố Đà Nẵng kéo dài 6 ngày.

 

Trong chuyến thăm lần này, ngoài chương trình hợp tác trao đổi kỹ năng điều khiển bảo trì tàu, đội tàu Hải quân Hoa Kỳ còn thực hiện các hoạt động nhân đạo về y tế tại Trung tâm Y tế Quốc tế Ngũ Hành Sơn, tặng đồ chơi trẻ em và giao lưu giữa thuỷ thủ đoàn với học sinh các trường trên địa bàn TP Đà Nẵng.

Tại buổi họp báo cùng ngày, Đô đốc Tom Carney, Tư lệnh Lực lượng Đặc Nhiệm 73 nói: “Đây là hoạt động ngoại giao thường niên giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ nhằm tạo điều kiện để thủy thủ hai nước hiểu nhau hơn, xây dựng các mối quan hệ hợp tác quan trọng giữa hai nước trong tương lai”.

Đội 3 tàu  USS Chung-Hoon (DDG-93), USS Preble và USNS Safeguard vừa mới kết thúc đợt tập trận chung “Hợp tác Sẵn sàng Chiến đấu và Huấn luyện Trên biển” (CARAT) giữa Hải quân Hoa Kỳ và Philippines.

alt

Cùng ngày 15/7, Sứ quán Mỹ tại Việt Nam cũng ra thông cáo có nội dung: Hoa Kỳ và Việt Nam tham gia các hoạt động giao lưu hải quân”:

Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu các hoạt động giao lưu hải quân với Hải quân Nhân Dân Việt Nam vào ngày 15/7 tại thành phố Đà Nẵng cùng lúc kỷ niệm 16 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Chương trình hợp tác diễn ra trong bảy ngày và sẽ tập trung vào các sự kiện phi tác chiến, các trao đổi kỹ năng trong lãnh vực điều khiển và bảo trì tàu. Các dự án hành động dân sự y tế và nha khoa, các chuyến thăm tàu, các buổi biểu diễn âm nhạc, các dự án cộng đồng và các sự kiện thể thao dự kiến cũng sẽ diễn ra. Các hoạt động này nhấn mạnh mối quan hệ ngày càng gần gũi hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

“Đợt hoạt động trao đổi này giúp thuỷ thủ hai nước hiểu nhau hơn và  xây dựng các mối quan hệ quan trọng giữa hải quân hai nước trong tương lai,” đô đốc Tom Carney, Tư lệnh Lực Lượng Đặc nhiệm 73 và Tư Lệnh, Lực Lượng Hậu Cần Tây Thái Bình Dương phát biểu.

Các đơn vị tham gia vào đợt hoạt động trao đổi hải quân lần này bao gồm tàu khu trục USS Chung–Hoon (DDG 93), tàu USS Preble (DDG 88) và tàu Giải cứu và Cứu hộ USNS Safeguard (ARS-50), thủy thủ của Lực lượng Đặc nhiệm 73, Tư lệnh Lực lượng Hậu cần Tây Thái Bình Dương, và Đội lặn và Cứu hộ Lưu động.

Hải quân Hoa Kỳ đã thực hiện nhiều chuyến thăm thành công đến Việt Nam trong những năm gần đây. Năm 2009, tàu sân bay USS John C. Stennis (CVN 74) lần đầu tiên đã đón tiếp các vị khách Việt Nam tham quan một tàu sân bay của Hoa Kỳ; tàu tiên phong của Hạm đội 7 USS Blue Ridge (LCC 19) và tàu khu trục USS Lassen (DDG 82) do hạm trưởng Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt, chỉ huy đã thăm Việt Nam vào tháng 11/2009.

Năm 2010, đoàn cán bộ Việt Nam thăm tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) và tàu USS John S. McCain (DDG 56) thăm Đà Nẵng. Tàu Bệnh viện USNS Mercy cũng thăm Việt Nam vào tháng 5/2010 theo  chương trình hỗ trợ nhân đạo đối tác Thái Bình Dương (Pacific Partnership).

Ngoài các chuyến thăm cảng, hai tàu của Hải Quân Hoa kỳ cũng đã thực hiện các hoạt động sửa chữa tại các nhà máy đóng và sửa chữa tàu của Việt Nam. Tàu USNS Safeguard (T-ARS 50) đã được sửa chữa tại Xưởng Sửa Chữa Tàu Sài Gòn (Saigon Shipmarine shipyard) vào tháng 8-9/ 2009, và tàu USNS Richard E. Byrd (T-AKE 4) vào tháng 2-3/2010 đã được sửa chữa tại nhà máy đóng tàu Cam Ranh, cảng Quốc Tế Ba Ngòi, vịnh Vân Phong.
alt

alt
alt
alt
alt
alt
Theo GDVN
Phải độc lập về tư tưởng

Ngô Nhân Dụng

 

Ông Ðới Bỉnh Quốc, ủy viên phụ trách về đối ngoại trong Thường Vụ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc có lần viết rằng nước ông không bao giờ có chính sách xâm chiếm các nước khác.

 Ðọc xong ai cũng phải bật cười. Không riêng gì người Việt Nam mà người Tây Tạng, người Uyghur, người Cao Ly (Hàn Quốc), người Mông Cổ, Mãn Châu và Ðài Loan, nếu học sử đều biết đất nước họ đã từng bị người Hán tấn công, chiếm đóng, khai thác, bóc lột rất nhiều lần. Thời gian mà nhà Ðường chiếm nước ta, đặt tên là An Nam thì họ cũng gọi tên Hàn Quốc là An Ðông. Trong các nhóm người này, hiện giờ chỉ còn những dân tộc Việt và Hàn còn đứng riêng chưa bị nuốt vào trong bụng Trung Quốc.

Cái tên Trung Quốc được dùng từ thời nhà Chu, trong sách Mạnh Tử ông nhiều lần nói đến tên này; mà trong thời Chiến Quốc ông sống thì những vùng phía Nam Trường Giang (thường gọi là sông Dương Tử) vẫn chưa thuộc Trung Quốc. Cái tên này chỉ là một danh từ địa lý chứ không phải tên một quốc gia; cho tới khi Tôn Trung Sơn lập Trung Hoa Dân Quốc nó mới thông dụng. Trước đó, để gọi tên nước Trung Hoa người ta chỉ dùng tên của các triều đại, gọi là nước Hán, nước Ðường, nước Tống, vân vân. Ông Tôn Trung Sơn người Quảng Ðông, thời xưa không thuộc vùng đất gọi là Trung Quốc. Nhưng người Tây Tạng, người Mông Cổ ngày nay không ai muốn bị gọi là người Trung Quốc.

Người Uyghur không may mắn như vậy. Họ vốn là một dân tộc hùng cường và văn minh, thuộc giống Turk. Họ cũng dũng mãnh như người Mông Cổ, đã từng làm chủ soái các bộ lạc du mục khác ở phía Bắc nước Tầu. Ðời Ðường gọi họ là Hồi Hột nhưng bị họ phản đối, đổi thành Hồi Cốt, đời Nguyên gọi là Duy Ngô Nhĩ, cho tới bây giờ. Họ đã đặt ra chữ viết riêng trước các bộ lạc du mục khác. Khi Thành Cát Tư Hãn đặt ra những đạo luật đầu tiên cho cả đế quốc Mông Cổ, ông đã phải dùng chữ Uyghur để ghi chép. Ðời Nguyên Thế Tổ, ông nhờ các vị lạt ma thông thái đặt ra một lối viết riêng, thống nhất ngôn ngữ Mông Cổ. Nhưng ngày nay, người Uyghur chịu thân phận làm một giống dân thiểu số trong tỉnh Tân Cương, lâu lâu lại nổi lên chống chính sách đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc và bị đàn áp tàn nhẫn.

Hai dân tộc rất dũng mãnh ở Mãn Châu và Mông Cổ đã từng xâm chiếm và thống trị nước Tầu một cách tàn bạo, nhà Nguyên kéo dài cả trăm năm, nhà Thanh gần bốn trăm năm. Hai triều đại đó đã góp công mở mang ảnh hưởng của Trung Quốc, nhà Nguyên chiếm thêm Ðại Lý và suýt nữa thì chiếm cả Việt Nam; nhà Thanh thì chiếm lấy Tây Tạng, xóa bỏ bản hiệp ước mà vua nhà Ðường công nhận Tây Tạng độc lập vào thế kỷ thứ 8. Người Mông Cổ đã chinh phục một vùng rộng lớn, kéo dài từ Cao Ly, bán đảo Sơn Ðông, qua các nước Hồi Giáo ở Trung Á, cho tới sông Volga, Kiev (Ukraina bây giờ), tới tận Hungary, Ba Lan, về phía Nam tiến xuống tới Syria, trước khi diệt nhà Tống chiếm nước Tầu. Khi Kublai, thường gọi là Nguyên Thế Tổ, chuyển kinh đô của ông từ Karakurum về Bắc Kinh vì thế lực của ông ở cố đô không mạnh bằng người anh họ, ông ta đã mở đầu một quá trình tự đồng hóa, biến người Mông Cổ thành người Trung Quốc, mặc dù trong triều đình ông chỉ dùng các vị thượng thư gốc Mông Cổ, hoặc người Tây Tạng, Uyghur, Á Rập, Thổ, tuyệt nhiên không dùng người Trung Hoa. Người Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất ngoài xa, đất đai khí hậu người Trung Hoa không chịu nổi, bây giờ mang tên nước Mông Cổ. Còn người Mãn Châu thì hoàn toàn bị đồng hóa.

Trung Quốc không phải là một dân tộc. Trên căn bản, đó là một đế quốc, bao gồm rất nhiều dân tộc. Mỗi lần uy quyền trung ương tan rã, các mảnh đất thuộc Trung Quốc hoặc bị các đế quốc khác chiếm, hoặc tự tuyên bố lập thành quốc gia riêng. Vì không có ý thức dân tộc, ít nhất cho tới thời Dân Quốc, người dân Trung Hoa có thể chịu sống dưới các chính quyền ngoại quốc, như những thời Nam Bắc Triều kéo dài nhiều thế kỷ mà miền Bắc do các giống dân từ phương Bắc kéo xuống cai trị, hoặc thuộc vào nước Liêu (từ Mãn Châu), nước Kim, đế quốc Mông Cổ, hoặc triều đình Mãn Thanh,vân vân.

Ngay bây giờ, nhiều người dân ở Quảng Ðông vẫn nuôi lòng hoài cổ, muốn nghiên cứu để xác nhận và phục hồi một nền văn hóa Nam Việt, nhất là sau khi người ta tìm ra ngôi mộ của vị vua nước Nam Việt thấy cái ấn tín viết Văn Ðế Hành Tỷ. Tức là ông vua, cháu nội Triệu Ðà, vẫn tự xưng mình là Ðế, mặc dù trong sử Tầu viết rằng ông đã chịu thần phục hoàng đế nhà Hán, chịu nhận chỉ phong Vương mà thôi. Trong ngôi mộ này, ngoài cái triện đó người ta không thấy chữ Hán, các hình trang trí cũng khác hẳn lối người Hán ở phương Bắc. Tới thế kỷ thứ 10, người Quảng Ðông vẫn lập ra một nước riêng, gọi là Nam Hán, đã từng nuôi mộng độc lập. Tỉnh Vân Nam cho tới thế kỷ thứ 12 vẫn là một quốc gia độc lập, trước gọi là Nam Chiếu, sau họ Ðoàn đổi tên là Ðại Lý; cho tới khi Kublai, một cháu nội của Thành Cát Tư Hãn sai quân Mông Cổ đánh chiếm và đặt quan cai trị. Chưa đầy một ngàn năm, bây giờ thì những người dân Quảng Ðông, Quảng Tây và Vân Nam tự nhận họ là người Trung Quốc mà không thắc mắc gì cả.

Chúng ta phải tự hỏi tại sao đế quốc Mông Cổ đã từng hùng mạnh và rộng lớn như vậy mà lại tàn tạ sau một trăm năm, còn đế quốc Trung Hoa tồn tại cho tới bây giờ? Nền tảng tồn tại của đế quốc đó chính là nền văn minh Trung Hoa. Cũng vậy, đế quốc Hồi Giáo thành hình từ thế kỷ thứ 7, mặc dù bây giờ đã tan rã nhưng vẫn còn để lại một nền văn minh Hồi Giáo kéo dài từ Bắc Phi sang tới Indonesia. Văn minh Hồi Giáo dựa trên một tín ngưỡng. Văn minh Trung Hoa dựa trên cách tổ chức xã hội, gồm một nền luân lý (Khổng Giáo) và một chế độ chính trị tập quyền do Tần Thủy Hoàng thiết lập. Từ đời Hán, tuy các triều đại vẫn bài xích Tần Thủy Hoàng nhưng trong thực tế họ vẫn sử dụng các thuật trị quốc của Pháp Gia (Nội Nho, Ngoại Pháp, hoặc nói ngược lại cũng được!) Ðế quốc Mông Cổ chấp nhận tất cả các tôn giáo. Ðạo luật của Thành Cát Tư Hãn lập ra cho một xã hội du mục, không đủ để duy trì trật tự trong đám dân định cư, phương tiện giao thông thô sơ không đủ để nối liền những vùng đất kéo dài từ Âu sang Á. Ðến đời các cháu nội của Thành Cát Tư Hãn thì đã có một người cải theo đạo Hồi và liên kết với đạo quân Ai Cập chống lại anh em mình, một người khác tự biến thành người Trung Hoa để sử dụng phương pháp cai trị của họ! Cuối cùng, một đế quốc hùng mạnh như Mông Cổ mà biến mất chỉ vì đã tự đồng hóa trước một nền văn minh vững chắc!

Sống hơn hai ngàn năm bên cạnh một nước lớn với lịch sử bành trướng dữ tợn như Trung Quốc, dân tộc Việt Nam (cũng như dân Cao Ly) vẫn còn tồn tại, đó là một hiện tượng lạ, đáng ngạc nhiên. Người Việt Nam có thể tự hào, họ là những người học trò của văn minh Trung Hoa, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mình. Trong đó, quan trọng nhất là những đặc tính phóng khoáng, trọng cá nhân và tôn trọng quyền bình đẳng của phụ nữ, những đặc tính văn hóa của các dân tộc phát xuất từ các đảo phía Nam. Người Việt Nam tồn tại cũng nhờ giữ được tiếng nói riêng, với văn phạm khác tiếng Tầu, và xã hội Việt Nam dựa trên làng xã khác với bên Tầu dựa trên các gia tộc.

Trong lịch sử, các vị vua Việt Nam thường chịu thần phục vua Tầu, nghĩa là tự nhận là phận dưới, không dám tranh giành ngôi vị (danh xưng hoàng đế) với các ông vua Tầu ở Biện Kinh hoặc Nam Kinh (đời Tống) hay Bắc Kinh (đời Nguyên). Nhưng ngoài những việc cống tiến giống như các nước nhỏ khác ở chung quanh nước Tầu, vua nước Nam vẫn không chịu khuất phục. Người Mông Cồ thường bắt vua các nước nhỏ trong đế quốc của họ phải tới triều bái hoàng đế nhà Nguyên, nhưng các vị vua nhà Trần đã từ chối. Có lúc Trần Nhân Tôn ngỏ ý muốn chấp nhận điều kiện đó để dân chúng khỏi bị họa binh đao, nhưng các vị tướng như Trần Hưng Ðạo đã phản đối, với câu nói nổi tiếng: Xin chém đầu tôi trước đã! Cuối cùng nhà Nguyên cũng phải thôi. Cùng thời gian đó, vua Miến Ðiện cũng từ chối không gửi con sang Bắc Kinh, và nước họ cũng bị xâm lăng ba lần đẫm máu, như nước ta.

Mặc dù ông Ðới Bỉnh Quốc ba hoa nói nước ông không nuôi tham vọng bá chủ bao giờ, hiện nay Trung Quốc đang chèn ép nước Việt Nam một cách có tính toán. Họ coi cả vùng Biển Ðông của nước ta là ao nhà của họ, cho tầu hải giám, ngư chính đi giám sát, tuần tiễu giống như cho cảnh sát đi tuần trên đường phố của nước Việt Nam!

Người Việt Nam chắc chắn không chịu cảnh làm nô lệ. Trung Quốc vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai năm 1958 để coi các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ, kể cả các vùng biển chung quanh! Ðối với bất cứ nước nhỏ nào ở bên cạnh Trung Quốc, chỉ đợi chính quyền nước đó theo đuổi những chính sách sai lầm là người Trung Quốc nhân dịp đè nén. Mối sai lầm lớn nhất là từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận “tư tưởng Mao Trạch Ðông” làm đường lối chỉ đạo quốc gia, rồi sau đó thi hành các chính sách giống hệt như Cộng Sản Trung Quốc, từ chỉnh huấn đến cải cách ruộng đất, cho tới cả chế độ lao cải; rồi sau lại tính đem chủ nghĩa cộng sản với tư tưởng Mao Trạch Ðông bành trướng trong khắp vùng Ðông Nam Á. Trong các thứ nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ tư tưởng. Nếu người cầm quyền ở nước ta còn tiếp tục bắt chước “mô hình Trung Quốc” trong việc phát triển quốc gia, thì tình trạng nô lệ về tư tưởng sẽ còn trầm trọng hơn nữa.

Muốn giữ nền độc lập, trước hết phải độc lập về tư tưởng. Trên thế giới hiện nay, mô thức phát triển có hiệu quả và mang lại hạnh phúc cao nhất cho người dân là lối tổ chức xã hội theo các quy tắc dân chủ tự do, về kinh tế cũng như chính trị. Ðối với người Việt Nam, đi theo con đường đó không những là tìm con đường phát triển hữu hiệu nhất mà còn là con đường duy nhất để bảo vệ độc lập dân tộc đối với nước láng giềng phía Bắc.

nguoi-viet.com

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s