Coi Chừng Mắc Mưu Tàu Cộng Quanh Công Hàm Của Phạm Văn Đồng!

 

Lê Thành Nhân – Sau chuyến đi Bắc Kinh hồi cuối tháng 6 của đặc-sứ của Hà Nội Hồ Xuân Sơn, với các bản Thông cáo báo chí của Bắc kinh và Hà Nội thì các tổ-chức và cơ quan truyền thông người Việt hải ngoại chúng ta bổng đồng loạt làm ồn ào lên về cái gọi là  “Công hàm” ngày 14-9-1958 của Phạm văn Đồng. Điển hình, trong hai buổi hội-luận về Đất Nước Lâm Nguy ngày vào hai ngày Chú Nhật 3 và 10 tháng 7 vừa qua trên đài SBTN, hội-luận-đoàn có vẻ đã muốn coi ngày 14-9-1958 là một ngày quan trọng, đánh dấu khởi điểm cho thảm họa mất Nước vào tay Tàu cộng đang diễn ra.

 

Làm như vậy, chúng ta đã phạm hai sai lầm chiến-lược:

 

1. Chúng ta mặc nhiên công nhận “công hàm” đó có giá-trị nên mới quan trọng hóa nó đến thế, trong khi lẽ ra CHÚNG TA PHẢI THẲNG TAY PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA NÓ.

 

  1. Chúng ta ủng hộ luận điệu của bọn cướp Nước Tàu cộng khi chúng trưng dẩn “công hàm” đó để làm căn-bản pháp-lý cho hành động cưỡng chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường sa của chúng ta, trong khi, lẽ ra, CHÚNG TA PHẢI QUYẾT LIỆT ĐẢ PHÁ LUẬN ĐIỆU đó.

CÔNG HÀM NGOẠI GIAO NGÀY 14-9-1958 CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ.

  1. Chiếu theo luật hiến pháp và luật bang giao quốc-tế thì vấn đề lảnh-thổ của Quốc-gia phải được quyết định bằng những HIỆP-ƯỚC CÓ SỰ PHÊ CHUẨN CỦA QUỐC HÔI và phải được lưu-trữ đày đủ vào văn khố Quốc-gia.  Một “công hàm ngoại giao” (memorandum diplomatique) chỉ là một công văn, KHÔNG thể làm được việc đó.
  2. Công hàm không có nói gì đến quần đảo Hoàng sa và Trường sa, mà chỉ nói đến lãnh hải 12 hải lý (từ lục-địa), và cũng không có kèm họa-đồ xác-định hai quần đảo TS và HS được lưu trữ đúng cách trong Văn-khố Quốc-gia cùng với bản công hàm.
  3. Vào thời điểm 14-9-58, hai quần đảo HS và TS thuộc lảnh-thổ Việt Nam Cộng-hòa, thì Phạm Văn Đồng KHÔNG CÓ QUYỀN BÁN NÓ, mà Tàu cộng thì cũng không thể nói bừa là đã NHẬN NÓ TỪ NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ CHỦ NHÂN HỢP PHÁP.   Nếu “công hàm” đó có giá trị thì tại sao Bắc Kinh không đến “nhận” (take possession) các quần đảo đó ngay sau khi “hoàn tất thủ tục mua/bán” vào ngày 15-9-1958 mà phải đợi đến 14 năm sau, tức tháng 1, 1974, mới  đem quân đến cưóp Hoàng sa trong tay của VNCH, và gần đây mới mưu toan nuốt gọn luôn cả Biển Đông?
  1. Luật về Thềm Lục-địa của Liên Hiệp Quốc được ban hành SAU 1958 nên hiện là căn bản pháp lý có giá-trị.  Công-hàm Phạm Văn Đồng KHÔNG thể thay thế luật trên của LHQ.
  2. Tại sao chúng ta phí sức dồn nổ-lực lên án cái “công hàm” rẻ tiền trên đây trong khi có ai biết được bao nhiêu “hiệp-ước mật” bán Nước khác giữa cộng đảng Tàu và cộng đảng Việt gian tay sai từ 1949 tới nay!

TÀU CỘNG MUỐN CHÚNG TA CHỈA MỦI DÙI VÀO PHẠM VĂN ĐỒNG ĐỂ QUÊN ĐI TÊN THỦ PHẠM CHÍNH: TÀU CỘNG! CÙNG LÚC KHUYẾN KHÍCH DÂN VIỆT ĐÁNH DÂN VIỆT!

Lập luận trên đây KHÔNG nhằm “chạy tội” hoặc làm nhẹ tội cho Phạm Văn Đồng, mà chỉ nhằm tránh mắc mưu tên thủ phạm chính là bọn Tàu cộng cướp nước chúng ta.  Tôi của Phạm Văn Đồng thì cũng không còn gì phải bàn cải. Cũng không phải chỉ có PVĐ mới có tôi mà toàn bộ cái cộng đảng VN đã can tôi bán Nước, kể cả tên chúa đảng HCM.  Chúng cũng không phải đợi đến ngày 14-9-58 mới bán Nước.  Chúng bán Nước từ khi quyết định gia-nhập đảng CS quốc-tế (người CS KHÔNG có tổ-quốc: “đảng” là trên tất cả).   Phạm Văn Đồng không phải là người quyền lực nhứt trong đảng, y chỉ là một tên “thừa hành” (thừa tướng), vi khi PVĐ ký công hàm đó thì chắc chắn phải có sự đồng ý của “Chủ-tịch” HCM và lãnh-đạo đảng của ông ta. “Nhà Việt Nam” đang bị lũ giặc Bắc phương cướp phá.  Nhiệm vụ cấp bách HIỆN NAY của chúng ta là lo cứu  Nước chứ không nên ngồi đó để luận tội từng người.    Đến lúc luận tội xong thì Đất Nước có thể đã bị Tàu cộng nuốt hết.  Hãy để cho lịch sử xét xử họ và dành cho họ một bản án thích đáng.
Điều hiển nhiên lý là sau khi Bắc Kinh tung ra vấn đề “Công hàm 1958” thì chúng ta đã đổ xô nhau đi chống hồn ma Phạm văn Đồng quyết liệt hơn là chống Tàu cộng cướp Nước.  Đấu tranh chánh-trị là công việc,khó khăn, phức tạp, cần có mưu trí, sách-lược, tổ chức và lãnh-đạo.  Những hành động rời rạc, không có tổ chức, lãnh đạo một cách khoa học, v.v…   thì không thể đưa đến thành công được.  Mọi người Việt yêu Nước, nhứt là giới sĩ phu, nên cùng nhau tìm ra một phương thức cưú Nước hữu hiệu.
Hải ngoại ngày 7-7-2011
Lê Thành Nhân
Email: minhtandiendan@yahoo.com
                        “Tái ngộ Mỹ-Việt”

Thứ sáu 15 Tháng Bẩy 2011

Bài “Tái ngộ Mỹ-Việt” của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam. RFI xin giới thiệu bản dịch.

36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ – Việt

Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’, vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹ trong việc đưa quân tham chiến Việt Nam, vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…

* *

Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp nhô cụm sóng trên biển « Hoa Nam » mà người Việt gọi là « Biển Đông ». Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh Việt Nam. Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại. Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.

Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên. Kể từ năm 2003, khoảng một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này, những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang, đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ – với tư các là thượng khách. Mọi chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam. 20 năm xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc chiếm được Sài Gòn, như thể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả viện trợ quốc tế đối với một chú lùn đã đánh bại mình và cấm vận thương mại đã được duy trì cho đến năm 1994.

Khu trục hạm « USS John S. McCain » ghé cảng Đà Nẵng

Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn ra tại Hà Nội. Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩ quan cao cấp của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh tạc cơ, và như vậy bị xem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi tại Việt Nam. Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trở thành một vị anh hùng đối với một bộ phận công luận Mỹ.

Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh…Còn giờ đây, vợ của vị tổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: « Thay vì là cựu thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm mức cao hơn (2) ».

Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm 2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000, trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3 tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần, nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3). Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, – chủ yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm 2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.

Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi, mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ kỹ và viết lại ký ức. Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của thời kỳ 1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn 1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh. (…) Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4). »

Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê. Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồng đô la xanh, mà còn nảy sinh từ « Giấc mơ kiểu Mỹ »: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh – một kỷ lục đối với các nước Đông Nam Á – đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương.

Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự

Miền nam Việt Nam, do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người ta có thể đọc thấy hàng chữ « We are back in Saigon ! » (« Chúng tôi trở lại Sài Gòn »)…

Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền. Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án – vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ nhàng tuyên bố « rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều ».

Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ trong các « cuộc cách mạng mầu » tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ. Phải chăng sẽ không khuyến khích một kịch bản « diễn biến hòa bình », mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam ?

Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những thù hận trong quá khứ. Thậm chí, năm 2011 có thể sẽ chứng kiến hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quan đến việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW, trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự – trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam, với các điều khoản của bản thỏa thuận Ấn Độ – Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).

Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : « Do Ấn Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy, chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc hội. Trong trường hợp của Việt Nam, nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt. »

Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định : « Hoa Kỳ sử dụng các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết ». Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm « các quốc gia hạt nhân trỗi dậy », đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình hạt nhân dân sự. Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Phải chăng « nhất bên trọng, nhất bên khinh ? » Khi còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói rằng « Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối với từng nước, từng vùng (7) ».

« Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng »

Đối với Washington, việc củng cố các quan hệ quân sự và hợp tác hạt nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình Dương. Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sự cho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải ; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng thủ chung.

Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chế Trung Hoa tất đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc. Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia, Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương còn nói rõ hơn : « Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất » (8). Đối với cường quốc Hoa Kỳ, lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này, không phải để chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từ nhiều thế kỷ qua, Việt Nam xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi sức hút của nó. Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn – nhập khẩu từ láng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy, ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales, Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng « không một nước nào có thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9) ». Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á. Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn : « Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10) ».

Công việc này cũng không phải là dễ dàng đối với Mỹ. Ông Brantly Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc lại rằng « sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu biết về mối quan hệ song phương này ». Phía Trung Quốc cũng đưa ra những mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : « Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp bênh vừa mong manh như vỏ trứng », người ta có thể đọc thấy những dòng này trên Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc (…) « Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào, có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam ».(12)

Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụ vào cuối thế kỷ XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương, « Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào Biển Đông. Đối với Việt Nam, đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»

Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bị bỏ qua

Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớ lại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này, vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục ông đã giải quyết thành công trong 25 năm. Viện trợ của Liên Xô đã biến mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn không thể nào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức, tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.

Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng. Ỏ Hà Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa nhắc lại rằng Việt Nam « là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy, quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14) ». Hiện nay, có nhiều điềm tốt. Thế nhưng « sự hung dữ của vị trí địa lý (15) » có thể vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam.

* *
Chú thích

(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranh ở miền nam Việt Nam

 

(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy (1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).

(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.

(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.

(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Mối quan hệ không rõ ràng : Những ấn tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 – An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, tập 7, n° 3, Washington, DC, 10/2010.

(5) Đọc Siddharth Varadarajan, « Ấn Độ khao khát được thừa nhận », Le Monde diplomatique, 11/ 2008.

(6) Tác giả của cuốn « Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản », HarperCollins, New York, 2006. Ngoại trừ có chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất phát từ các cuộc trao đổi.

(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, « Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán về công nghệ hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng », Bloomberg, 06/08/2010.

(8) Agence France-Presse, 07/2010.

(9) Carlyle Thayer, « Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ », hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 10/12/2010.

(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.

(11) Brantly Womack, « Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt », The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.

(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nên đùa với lửa », Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.

(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa (Brunei có đòi hỏi chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong « Những thay đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam », Harvard Asia Quarterly, Cambridge (Massachusetts), 12/2010

(14) Hoàng Anh Tuấn, « Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ : Một câu trả lời », Contemporary Southeast Asia, tập. 32, n° 3, Singapour, 2010.

(15) Carlyle Thayer, « Sự hung dữ của vị trí địa lý : Những chiến lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam», International Studies Association, Montréal, 03/2011.

 

Hoa Kỳ và Ấn Độ sẽ giúp Việt Nam đánh bại Trung Quốc

Nguồn: Blog Kichbu

США и Индия помогут Вьетнаму побороть Китай

14.07.2011
Tác giả: Sergei Balmasov

Nguồn: Pravda.ru

 

Kichbu post on thứ sáu, 15.07.2011

Việt Nam không đơn độc trong điều kiện cuộc tranh cãi lãnh thổ với Trung Quốc đang trở nên quyết liệt. Trong thời gian sắp đến các tàu chiến của Ấn Độ sẽ đến biển Nam-Trung Quốc. Đó là nói đến các khu trục hạm URO (phòng thủ tên lửa có điều khiển).
Nhưng đó chưa phải là tất cả: vào cuối tháng sáu từ Deli có thông tin rằng Hải quân Ấn Độ dự định đóng quân tại biển Nam-Trung Quốc nghiêm túc và lâu dài. Phía Ấn Độ dự kiến xác lập sự hiện diện quân sự  thường xuyên của mình tại đó.
Theo nguồn tin chính thức của chính phủ Ấn Độ, với việc thực hiện nhiệm vụ này hải quân Ấn Độ sẽ đóng vai trò rõ rệt hơn tại khu vực Đông-Nam Á, nơi có các hải lộ chiến lược  đi qua”.
Bằng cách đó Ấn Độ như một trong những đối thủ chủ yếu của Trung Quốc tại khu vực, muốn ngăn cản các kế hoạch của đất nước Thiên tử mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình vươn xa hơn nữa. Không có gì bí mật rằng phía Trung Quốc muốn xác lập quyền kiểm soát toàn bộ đối với các đảo ở biển Nam-Trung Quốc.
Tại thời điểm này Trung Quốc đang kiểm soát các đảo Parasel (Hoàng Sa) chiếm của Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa-Kichbu) vào năm 1974, và cũng như một phần nhỏ của quần đảo Spratly (Trường Sa). Mức độ căng thẳng của cuộc tranh cãi được giải thích không chỉ bởi tầm quan trọng của các hải lộ từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, mà còn bởi sự giàu có các tài nguyên sinh học của biển Nam-Trung Quốc và, điều cơ bản nhất, các nguồn dự trữ khí đốt tại đáy biển.
Nói riêng, phía VIệt Nam cho phép các tàu chiến của Ấn Độ được ra vào các căn cứ hải quân Nha Trang và Hạ Long. Thêm vào đó Ấn  Độ đề nghị giúp đỡ Việt Nam tăng sức mạnh hải quân của mình nhờ việc xây dựng các tàu chiến và đào tạo thủy thủ Việt Nam.
Vấn đề ở chỗ rằng tự mình Hà Nội không thể chống đối được  áp lực của Trung Quốc trên biển. Các sự kiện năm 1988 khi những người Trung Quốc đã chiếm được một phần quần đảo Spratly và giành chiến thắng trong cuộc giao chiến với hải quân Việt Nam đã cho thấy điều đó một cách trực quan.
Từ thời gian đó sự đoạn tuyệt giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam tăng lên nhiều lần  không có lợi cho Việt Nam. Một vài năm trước ban lãnh đạo Việt Nam đã có những biện pháp để giảm bớt sự gián đoạn này. Nói riêng, họ đã mua của Nga sáu tàu ngầm dizel. Tuy vây, sự hiện diện của chúng không thể ngăn được những người Trung Quốc hiện có lực lượng hải quân mạnh hơn.
Và nửa năm gần đây họ luôn tích cực biểu dương các cơ bắp của mình không chỉ đối với người Việt Nam mà còn cả đối với những người Philippines là những người cũng đòi nhận một phần của quần đảo Spratly chủ quyền của mình. Sự căng thẳng của cuộc tranh cãi lãnh thổ đã đạt đến  độ cao mà cách đây không lâu Manila đã kêu gọi sự can thiệp của Washington, và có ý định xây dựng mặt trận thống nhất với Việt Nam để đối trọng với “sự đe dọa Trung Quốc”.
Tuy vậy, hải quân Trung Quốc hiện hoàn toàn chiếm ưu thế đối với các lực lượng hải quân của Việt Nam và Philippines cùng gộp lại, và trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang các cơ hội của Manila và Hà Nội trên biển rất nhỏ.
Trong thời gian gần đây xác suất của một kịch bản như thế tăng lên rõ rệt. Vào cuối tháng năm, mức độ căng thẳng theo hướng Trung Quốc – Việt Nam và Trung Quốc – Philippines tăng đột biến. Các bên đưa bổ sung các lực lượng hải quân vào các khu vực có vấn đề. Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng hôm 14 tháng sáu  liên quan đến điều này đã ra chỉ lệnh về kêu gọi nhập ngũ trong trường hợp tình hình căng thẳng với Trung Quốc tiếp tục leo thang.
Thế nhưng, Trung Quốc, xuất phát từ việc bố trí lại lực lượng,  hoàn toàn không sợ điều đó thể hiện quyết tâm xác lập hoàn toàn quyền kiểm soát đối với quần đảo Spratly. Các đánh giá cao của quốc tế đối với các hidro cac bon, một mặt, và sự thiếu tiến bộ trong các cuộc đàm phán Nga-Trung về giá khí đốt, mặt khác, đã bổ sung thêm những xung lượng cho điều này.
Sự thât, việc xác lập quyền kiểm soát hoàn toàn từ phiá Trung Quốc đối với các đảo Nam-Trung Quốc tạo ra những vấn đề lớn đối với các nước Nam và Đông-Nam Á. Thậm chí tại Indonesia, chưa nói đến cả Malaysia và Philippines, những mối lo ngại liên quan đến việc Trung Quốc có thể sử dụng Spratly như bàn đạp để  chạy nước rút đến các nước của  biển phía nam đang tăng lên.
Còn liên quan đến Ấn Độ như thế nào, thì sự bành trướng của Trung Quốc đang tăng tại khu vực đã gây sự chống đối mãnh liệt từ phía Ấn Độ theo nguyên nhân khác. Chính cách đây không lâu trước điều này kẻ thù của Ấn Độ Pakistan đã quyết định cho phép Trung Quốc sử dụng căn cứ hải quân tại bờ biển của mình. Trong trường hợp Trung Quốc tăng cường hơn nữa tại biển Nam-Trung Quốc, Ấn Độ bị rơi vào tình thế rất bất lợi từ quan điểm chiến lược.
Tuy nhiên, nói về lo ngại do phiá Trung Quốc gây ra, không thể  quên về “ca sỹ sau cánh gà”. Hoa Kỳ đóng vai trò không phải cuối cùng trong việc xây dựng liên minh chống Trung Quốc với sự tham gia của Ấn Độ.
Chẳng hạn, từ tháng mười hai 2007 các nhà hoạt động nhà nước Mỹ có ảnh hưởng, cho đến giám đốc CIA, thường xuyên công du đến chính cả Việt Nam. Trong hoàn cảnh các mối đe dọa đang tăng từ phiá Trung Quốc, các bên  thể hiện ý định quên những nỗi nhục quá khứ. Điều này một lần nữa nhấn mạnh rằng trong tình dự kiến sự hiện diện quân sự của Ấn Độ trong thời gian sắp đến, các tàu chiến của Mỹ sẽ tiến đến bờ biển Việt Nam.
Các tàu chiến này không hạn chế đơn thuần là “những chuyến thăm xã giao” và tiến hành tập trận chung với hải quân Việt Nam. Dĩ nhiên, điều này gây cho Trung Quốc phản ứng bực bội khi mà Trung Quốc đã kêu gọi Hoa Kỳ “không can thiệp vào các cuộc tranh cãi lãnh thổ tại biển Năm-Trung Quốc”. Tuy nhiên tiếng kêu này chắc gì có khả năng dọa được những người Mỹ, mà những người này đồng thời với sự tăng cường hoạt động của đất nước Thiên tử tại khu vực sẽ chỉ đẩy mạnh các biện pháp kiềm chế nó. Trong trường hợp ngược lại họ sẽ nhượng bộ những người Trung Quốc lãnh thổ quan trọng  chiến lược về mặt địa chính trị.
Kichbu

Bài dịch của Kichbu chưa được hiệu đính. Các bạn đọc tham khảo.

—————–

Khi báo TQ đòi Mỹ tôn trọng lợi ích cốt lõi

 

15/07/2011

Bình luận chuyến công du Trung Quốc của Đô đốc Mike Mullen – Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, tờ Nhân dân Nhật báo Trung Quốc khẳng định, để cải thiện quan hệ song phương, trước hết Mỹ cần tôn trọng lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Tờ báo viết, Đô đốc Mike Mullen gần đây tới thăm Trung Quốc nhằm “đáp lễ” chuyến công du Mỹ của Tướng Trung Quốc Trần Bỉnh Đức hồi tháng 5. Quan hệ Trung – Mỹ gần đây đang ấm dần nhờ nỗ lực của cả hai bên. Tờ báo trích phát biểu của ông Mullen tại Đại học Nhân dân: “Trung Quốc ngày nay là một quốc gia khác biệt so với 10 năm trước, và thực sự tiếp tục thay đổi trong 10 năm tới. Họ không còn là cường quốc đang trỗi dậy mà thực tế đã là một cường quốc thế giới”.

Bài bình luận cho rằng, vấn đề rõ ràng khi nhắc tới “cường quốc thế giới” là nhằm đề cập tới “những trách nhiệm của Trung Quốc”.

 

Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức trong lễ đón người đồng cấp Mỹ Mike Mullen tại Bắc Kinh. Ảnh: THX
Theo tờ báo, quan hệ quân sự hai bên đã tụt hậu so với quan hệ Trung – Mỹ nói chung. Lý do cơ bản là các động thái quân sự thường liên quan tới những lợi ích cốt lõi của cả hai bên, ảnh hưởng lớn tới tâm lý người dân hai nước. Rằng, Mỹ cần hiểu, các trở ngại trong quan hệ quân sự song phương gần đây không phải sự thiếu minh bạch của quân đội Trung Quốc. Gốc rễ là tâm lý ngăn chặn mà từ lâu Mỹ theo đuổi và đôi khi đe dọa lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Bài báo cáo buộc các động thái của Mỹ gần đây về vấn đề Biển Đông đã làm phức tạp thêm tình hình với lập luận: Khi tranh chấp Biển Đông leo thang, Mỹ, với sự hiện diện quân sự mạnh mẽ nhất trong khu vực, đã cố giương oai thay vì đóng vai trò làm dịu căng thẳng.

Báo này khẳng định, vấn đề bán vũ khí cho Đài Loan là phép thử thực sự về việc Mỹ có “hợp thời” trong mối quan hệ với Trung Quốc hay không. “Trừ khi vấn đề được giải quyết toàn diện, nếu không, hai nước không thể phát triển quan hệ quân sự ổn định và sẽ ảnh hưởng tới sự hợp tác trong các lĩnh vực khác. Nếu Mỹ thực sự tôn trọng Trung Quốc, thì đầu tiên cần thể hiện sự tôn trọng với các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Lợi ích cốt lõi và Biển Đông

Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á đã có nhiều năm tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ với Biển Đông. Tháng 7 năm ngoái, khi căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này gia tăng, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã “liên kết” với những quốc gia Đông Nam Á để đưa ra tuyên bố phản đối Trung Quốc. Tại hội nghị an ninh khu vực ở Hà Nội, bà thẳng thừng tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông và Trung Quốc cũng như các nước khác nên tôn trọng thỏa thuận năm 2002 đảm bảo việc giải quyết tranh chấp chủ quyền “bằng các biện pháp hòa bình”.

Theo giới phân tích, khi ấy, quan chức Trung Quốc thực sự bất ngờ khi Mỹ dính líu tới vấn đề Biển Đông. Một cuộc tranh luận công khai đã nổ ra tại Trung Quốc về chủ điểm này: Liệu Trung Quốc có nên chính thức “nâng cấp” Biển Đông thành “lợi ích cốt lõi”, sánh ngang với các vấn đề chủ quyền khác của họ như Tây Tạng, Đài Loan, Tân Cương để có thể biện minh cho sự can thiệp quân sự?

Sau tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ, bản tiếng Anh của Thời báo Hoàn cầu, Trung Quốc đã đưa ra bài bình luận đầy giận dữ, coi Biển Đông như một lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Tờ báo viết: “Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền của mình để bảo vệ lợi ích cốt lõi với các biện pháp quân sự”.

Trang web của Nhân Dân Nhật báo đưa ra kết quả cuộc thăm dò người đọc rằng, bây giờ có phải là lúc dán mác “lợi ích cốt lõi” với Biển Đông. Theo đó, 97% trong gần 4.300 người được hỏi nói “có”.

Một số quan chức Trung Quốc từng “thả nổi” ý tưởng này vào đầu năm 2010 trong các cuộc trao đổi kín với những người đồng nhiệm Mỹ. Năm ngoái, vài quan chức Mỹ đã nói với báo giới ở Bắc Kinh và Washington, một hoặc nhiều quan chức Trung Quốc đã gắn mác để Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”. Tuy nhiên, bất chấp những tuyên bố hay tranh luận, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không đưa ra một chính sách rõ ràng để tuyên bố Biển Đông như vậy, và họ cũng không phủ nhận nó.

Bộ Ngoại giao và Hội đồng Nhà nước Trung Quốc không trả lời câu hỏi về vấn đề này, cho dù nhiều lần được yêu cầu.

Michael Swaine, nhà phân tích của Tổ chức Carnegie Endowment, đã có bài nghiên cứu nhìn nhận về việc Trung Quốc gia tăng sử dụng cụm từ “lợi ích cốt lõi”. Sau khi khảo sát các nguồn in ấn Trung Quốc, ông Swaine kết luận rằng, Trung Quốc không chính thức coi Biển Đông như một “lợi ích cốt lõi”.

Tuy nhiên, những điều kể trên không đồng nghĩa với việc Trung Quốc đã kiềm chế trong tuyên bố chủ quyền. Liên tiếp trong các cuộc họp báo kể từ đầu năm tới nay, trả lời các câu hỏi về tình hình Biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Dư đều nói: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với Biển Đông”.

Khiêu khích khác thường

Trước báo chí sau cuộc gặp với Đô đốc Mullen, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức đã dùng những lời lẽ mang tính khiêu khích khác thường từ trước tới nay với một quan chức nước ngoài viếng thăm.

Ông thúc giục Mỹ “khiêm tốn và thận trọng hơn trong lời nói và hành động” giữa lúc căng thẳng gia tăng xung quanh tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông – vùng biển chiến lược và giàu tài nguyên. Tại Bắc Kinh, ông Trần nói: “Trong nhiều dịp khác nhau, phía Mỹ đã thể hiện rằng họ không có ý định can thiệp vào tranh chấp ở Biển Đông, nhưng thực sự lại gửi tín hiệu ngược lại. Chúng tôi đang thấy các cuộc tập trận giữa Mỹ và những quốc gia khác. Chúng tôi thừa nhận, có những cuộc tập trận như thế ở đây trong quá khứ, tuy nhiên, tổ chức các cuộc tập trận quân sự tại thời điểm này rất không thích hợp”.

Ông còn cáo buộc Mỹ chi tiêu quá nhiều vào quân sự. “Sẽ là tốt hơn nếu Mỹ không dành quá nhiều tiền vào quân sự, trong khi lại ít hơn ở những lĩnh vực khác nhằm đóng góp một vai trò xây dựng trong hòa bình và ổn định”, tướng Trung Quốc nói. “Tôi biết Mỹ đang phục hồi trong khủng hoảng tài chính, vẫn còn có những khó khăn trong kinh tế… và phải chăng họ đặt quá nhiều áp lực lên người đóng thuế?”.

Trước căng thẳng Biển Đông khi cả Việt Nam và Philippines đã cáo buộc Trung Quốc hành xử gây hấn ở những vùng biển thuộc chủ quyền của hai nước, Bắc Kinh vẫn khẳng định muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nhưng không quên đưa ra tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông, kể cả những vùng thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Về phần mình, Đô đốc Mullen bày tỏ, Washington quan ngại về tình hình tự do hàng hải, nhưng cũng hy vọng rằng, các tranh chấp “sẽ được giải quyết hòa bình”. Ông nhấn mạnh, Mỹ không tìm kiếm việc kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng khẳng định, Mỹ vẫn tích cực hiện diện ở châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian dài.

Thụy Phương

VietNamNet

 

Trung Quốc lo Mỹ tung ra QE3 (Nguồn tin: Chinadaily)

 

 

‘Trấn áp biểu tình là đi ngược lòng dân’

Biểu tình chống TQ tại Hà NộiMột số nhân sỹ, trí thức trong nước tin tưởng rằng ngày Chủ Nhật 13 tháng Bảy sẽ tiếp tục diễn ra biểu tình chống TQ.

Một số nhân sỹ, trí thức trong nước tin rằng ngày Chủ Nhật cuối tuần này sẽ tiếp tục diễn ra biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội mặc dù cuộc biểu tình, tuần hành hôm Chủ nhật 10/7 ở Thủ đô đã gặp sự can thiệp mạnh của chính quyền và lực lượng an ninh.

Trao đổi với BBC hôm thứ Sáu 15/7, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội cho rằng khả năng diễn ra một cuộc biểu tình, tuần hành vào hôm 13/7 là “có” vì Trung Quốc đã không chỉ sử dụng ‘tàu dân sự’ mà chính thức sử dụng ‘tàu hải quân với binh lính vũ trang’ xâm nhập lãnh hải VN và hành hung ngư dân ở Quảng Ngãi.

Ông Diện, một trong số những người tham gia biểu tình chống TQ thời gian qua và có tên trong danh sách công dân ký vào bản kiến nghị hôm 10/7, gửi Quốc hội và Bộ Chính Trị, cho rằng việc can thiệp của chính quyền và lực lượng an ninh, như ở cuộc biểu tình hôm Chủ nhật tuần trước là đi ngược lại với lòng dân.

Nếu việc như tuần trước mà lặp lại, thì chắc chắn sẽ gặp phải sự phản đối của những người đi biểu tình, ít nhất là của những người đi biểu tình

Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện

“Không thể đoán biết được các cơ quan đó sẽ xử sự như thế nào với các cuộc biểu tình sắp tới, nhưng tôi nghĩ nếu tiếp tục xử sự như lần trước thì vô cùng là dở,” ông Diện nói.

“Vì đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân, đi ngược lại lòng yêu nước và sự thiết tha của nhân dân đối với lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.”

Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, người đang công tác tại Thư viện thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội cũng cảnh báo:

“Nếu việc như tuần trước mà lặp lại, thì chắc chắn sẽ gặp phải sự phản đối của những người đi biểu tình, ít nhất là của những người đi biểu tình. Bởi vì họ không có tội gì và bởi vì việc giữ người như thế là không được phép.”

“Không thể ngăn được”

Giáo sư Tương LaiGiáo sư Tương Lai tin rằng không thể ngăn được lòng yêu nước của người dân.

Từ Sài Gòn, Giáo sư Tương Lai, một trí thức khác từng tham gia biểu tình chống Trung Quốc và ký tên trong bản kiển nghị “Về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay” cũng nói với BBC rằng ông tin là các cuộc biểu tình sẽ tiếp tục diễn ra.

“Một khi ý chí của nhân dân được khởi động và hiểu rõ tình hình, thì tự khắc người ta sẽ biểu thị thái độ cần thiết của người ta,” người từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Xã hội học thuộc Viện Khoa học Xã hội VN, nói.

“Làm sao ngăn được các cuộc biểu tình, làm sao ngăn được lòng yêu nước? Và cũng không thể ngăn được,” Giáo sư Tương Lai khẳng định.

“Nếu như Trung Quốc tiếp tục các hoạt động gây hấn, lấn chiếm Biển Đông và biểu tỏ thái độ xấc xược, ngang ngược của họ thì chừng ấy vẫn còn có các cuộc biểu tình phản đối và biểu tỏ sức mạnh của Việt Nam,” ông nói.

Đánh giá về tác động của bản kiến nghị gửi Quốc hội và Bộ Chính trị hôm 10/7, một số nhân sỹ, trí thức và văn nghệ sỹ hôm thứ Sáu cũng cho BBC hay họ tin rằng bản kiến nghị đã “thu hút được nhiều sự chú ý” của công luận.

Một số vị cho rằng các cơ quan lập pháp và nắm quyền lực này phải có trả lời công khai trước dư luận, chẳng hạn như trên phương tiện thông tin đại chúng, hay gửi thư trực tiếp cho một số công dân đã ký tên.

Trong khi đó, một số ý kiến khác tin rằng điều quan trọng hơn là câu trả lời phải được thể hiện “hợp lý” thông qua các đối sách, chính sách đúng đắn, cụ thể, hay thiết thực của đảng cộng sản và nhà nước trước Trung Quốc tới đây.

BBC

Hình ảnh hoạt động chung hải quân Việt-Mỹ(BBC)

 

 

Thứ Sáu, 15 tháng 7 2011

VN, Mỹ bắt đầu diễn tập hải quân bất chấp sự phản đối của Trung Quốc

 

Tàu khu trục USS Chung Hoon

Tàu khu trục USS Chung Hoon

Việt Nam đã đón ba tàu chiến thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ (gồm tàu khu trục USS Chung-Hoon, USS Preble và tàu giải cứu – cứu hộ USNS Safeguard) tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) để bắt đầu thực hiện một cuộc diễn tập hải quân chung kể từ ngày 15/7, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc sau nhiều tuần căng thẳng leo thang ở Biển Đông.

Đại sứ quán Hoa Kỳ cho biết trong một công bố rằng hai bên sẽ tiến hành 7 ngày huấn luyện ngoài khơi bờ biển miền trung Việt Nam.

Theo hãng thông tấn Pháp, các giới chức Hoa Kỳ mô tả các cuộc thao dượt này là các “hoạt động phi tác chiến” và tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi kỹ năng trong lĩnh vực điều khiển và bảo trì tàu.

Mặc dù vậy, trước đó, Trung Quốc đã lên tiếng chỉ trích cuộc thao dượt này.

Hôm 11/7, sau các cuộc trao đổi ở Bắc Kinh với người đồng nhiệm Hoa Kỳ, Đô đốc Mike Mullen, Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, Tướng Trần Bỉnh Đức, nói thời biểu các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ tại khu vực nhạy cảm Biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông, là không đúng lúc.

Theo Reuters, ông Trần cũng kêu gọi Hoa Kỳ ‘chừng mực hơn và thận trọng hơn trong lời nói và hành động’ giữa tình hình căng thẳng leo thang liên quan đến các tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.

Hãng thông tấn Đức trích lời đô đốc Thomas Carney – tư lệnh lực lượng Đặc nhiệm 73 và tư lệnh lực lượng hậu cần Tây Thái Bình Dương – nói rằng “sự kiện này không liên quan gì đến các tranh chấp lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa và không có gì là bất thường hay mang tính khiêu khích.”

Đáp lại những chỉ trích của phía Trung Quốc, ông Carney nói rằng ông không biết khi nào thì mới là thời gian phù hợp cho các hoạt động mà theo ông vốn là những hoạt động nhằm giúp thủy thủ hai nước hiểu nhau hơn và xây dựng các mối quan hệ quan trọng giữa hải quân hai nước trong tương lai.

Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Philippines nhận chủ quyền một phần tại Biển Đông, trong khi Đài Loan và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ khu vực này dựa trên một bản đồ có từ nhiều thế kỷ trước.

Trong vài tháng qua, cả Việt Nam lẫn Philippines đều lên tiếng phản đối việc tàu bè của Trung Quốc gây cản trở cho những hoạt động thăm dò dầu khí của họ tại những vùng biển thuộc khu vực đặc quyền kinh tế của nước họ.

Mới đây, Philippines cũng đã kết thúc 11 ngày diễn tập hải quân với Hoa Kỳ gần vùng biển mà họ gọi là Biển Tây Philippines, nhưng cả đôi bên đều nhấn mạnh sự kiện này là thường niên nhằm thắt chặt mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước.

 

Nguồn: AFP, DPA, CN 1145743

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s