Đối trọng Không quân Việt Nam – Trung Quốc

Today,2011

Trong bối cảnh tranh chấp vùng đảo Hoàng Sa – Trường Sa, Việt Nam và Trung Quốc đều có những lí lẽ và lập luận của riêng mình. Và tất cả lí lẽ của Trung Quốc chỉ là ngụy biện cho sự xâm chiếm trái phép trên chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam. Sau khi xâm chiếm Hoàng Sa từ năm 1974 và cho đến nay Trung Quốc đã kịp thời xây dựng một sân bay chiến lược ở quần đảo Woody mà chúng ta được biết với tên Phú Lâm. Và tương lai của Woody sẽ được Trung Quốc biến thành như thế này

(Đảo Woody trong tương lai theo mô hình của TQ)

Mục đích của Trung Quốc muốn biến Hoàng Sa từ khu vực quân sự thành dân sự và dựa vào đó làm cơ sở cho tiến trình khai thác vùng biển Đông lâu dài. Và sau này nếu có sự kiện chiến tranh ở đây thì Trung Quốc vẫn “chính ngôn” chống trả, sử dụng vũ lực tối đa để bảo vệ vùng đất phi quân sự “của mình”. Một cơ sở từ quân sự sang phi quân sự cho thấy Việt Nam muốn đánh cũng rất khó, vì sẽ mang tiếng là “xâm lược” và bị lên án do hành động đánh vào nơi dân sự. Ngoài việc xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Hải Nam nhằm mục đích kiểm soát toàn bộ vùng biển Đông thì sân bay ở đảo Woody là một miếng ghép hoàn hảo về quân sự. Dưới đường thủy – trên đường không, tàu ngầm và máy bay thì là tuyệt vời nếu như xảy ra chiến tranh trên biển . Từ đảo Woody đến quần đảo Trường Sa chỉ mất 700km là cự ly vừa tầm máy bay tác chiến và quay về tiếp nhiên liệu. Sâu xa hơn sân bay trên đảo Woody không chỉ xây như thế mà thực sự nó là đối trọng với sân bay quân sự Thành Sơn ở Ninh Thuận. Sân bay Thành Sơn là một trong những sân bay chiến lược của không lực Mỹ ở đây. Nơi đây có thể đáp được những máy bay cỡ lớn như C-130s.

USAF C-130 at Phan Rang AB - June 1967

(Một góc nhìn từ sân bay quân sự Thành Sơn)

Cơ sở vật chất của sân bay Thành Sơn sau 1975 thì hầu như không bị thiệt hại nhiều và cho đến nay thì Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sử dụng nó như là căn cứ không quân chiến lược. Có sự yểm trợ nào nhanh nhất ngoài việc sử dụng máy bay chiến lược? Khoảng cách từ sân bay Woody đến quần đảo Trường Sa là 700 km và từ sân bay Thành Sơn đến Trường Sa là 600 km. Nói đến đây thì bạn cũng hiểu được sự quan trọng của sân bay Woody là như thế nào. Nếu xảy xung đột ở thì từ Woody các tiêm kích của Trung Quốc sẵn sàng từ đây bay ra nghênh chiến với không quân Việt Nam chỉ với khoảng thời gian gần bằng nhau. Và có thể qua bay về đảo để tiếp thêm nhiên liệu mà tiếp tục chiến đấu.   

img49/2237/vntqva7.jpg

(Sân bay Thành Sơn và Woody cự ly đến Trường Sa)

Trong số 150 Mig-21, 53 Su-22, 12 Su-27,  4 Su-30MK2VS, hầu như những máy bay chiến lược của không quân Việt Nam phần lớn tập trung ở sân bay Thành Sơn . Những chiếc Su 22 cải tiến này có khả năng mang được tên lửa chống hạm hiện đại nhất, sẽ là “con bài chiến lược” của ta trong tác chiến bảo vệ Trường Sa.

img386/2379/su30bienhoaairbaseid3.jpg

(SU-30MK2 niềm tự hào của không quân Việt Nam. Chụp từ Biên Hòa Airbase)

Thêm vào đó lực lượng phòng không cũng được trang bị thêm các dàn hỏa tiễn địa đối không S-300 PMU1 và hiện đại thêm hải quân. Đọc thêm về lực lượng hải quân Việt Nam Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã khiến Mỹ và các cường quốc phương Tây phải e dè thì nói chi Việt Nam mỗi năm từ 1 đến 2 tỷ dollars (số liệu theo sách trắng quốc phòng) thì khó có khả năng đương đầu được với Trung Quốc trong một cuộc hải chiến. Sở dĩ Việt Nam mua vũ khí Nga mà không mua vũ khí của Mỹ bởi vì bạn hàng vũ khí lớn nhất của Trung Quốc là Nga (Mỹ cấm vận vũ khí với Trung Quốc). Qua đó chúng ta biết được ít nhiều về những “tính năng bí mật” của những vũ khí đó để tìm ra điểm yếu. Việt Nam và Nga luôn có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp từ thời Liên Bang Xô Viết và cho đến nay thì Việt – Nga vẫn còn duy trì tình đồng chí hữu hảo. Nếu không may xảy ra chiến tranh thì Nga sẽ cung cấp cho Việt Nam những tính năng của vũ khí Trung Quốc. Chính vì vậy mối quan hệ Nga – Việt là mang tầm chiến lược lâu dài. Trong những chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam vào những năm 2002 – 2003, đây không đơn thuần chỉ là cuộc thăm viếng xã giao mà là là sự hội đàm mua những thiết bị mới để thay thế cho số vũ khí mà Mỹ đã trang bị cho quân đội Sài Gòn sau chiến tranh còn để lại. Ví dụ như những chiếc trực thăng UH-1 cho đến nay vẫn được không quân Việt Nam sử dụng tốt hay những chiếc C-130 được mệnh danh là những con ma bóng đêm… Việt Nam – Trung Quốc hơn thua nhau không chỉ là vũ khí hay sức mạnh quân sự, mà còn là chiến lược ngoại giao.

 

Hải quân Việt Nam qua con mắt báo chí nước ngoài

Với các thông tin đã được xác nhận , phía Việt Nam sẽ được trang bị tàu ngầm lớp Kilo .
Mạng tin tức Fox Hoa kỳ cho biết với động thái này Hải quân Việt Nam sẽ nâng cao khả năng bảo vệ Biển Đông và nâng cao khả năng cảu Hải quân Việt Nam trong chiến đấu nếu xảy ra chiến sự với Trung Quốc trên Biển Đông . Như vậy hải quân Trung Quốc không còn chiếm ưu thế quá lớn trên Biển Đông . Tuy nhiên chuyên gia quân sự Trung Quốc cho biết trên “thời báo toàn cầu “ cho rằng hải quân Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng tác chiến xa bờ mà vẫn phải dựa vào lực lượng bờ biển và các trang thiết bị hiện đại mới chỉ là ước lượng trong tương lai .


Molnya và các tàu chiến khác yểm trợ Trường Sa

Nhà máy đóng tàu Admiral của Nga tại St Petersburg chính thức đưa tin hợp đồng đóng 6 tàu ngầm lớp Kilo thế hệ thứ 5 của Nga cho Việt Nam với tổng giá trị 1,8 tỷ đồng và sẽ được giao hàng bắt đầu từ năm 2009 , 2010 .

Tàu ngầm lớp Kilo là loại tàu ngầm tấn công phổ biến trên thế giới , nó đã được bán cho 29 quốc gia trên thế giới . Trong thời kỳ chiến tranmh lạnh phía Việt Nam đã rất mong muốn có tàu ngầm Kilo và sau nhiều năm thương thảo dự án này và mong muốn này của người dân Việt Nam đã trở thành hiện thực với giá trị 1,8 tỷ đô la Mỹ ,chiếm hơn một nửa tổng ngân sách quốc phòng của Việt Nam .

Theo hãng tin tức Fox thì việc Việt Nam trang bị 6 tàu ngầm lớp kilo thế hệ thứ 5 của Nga như một động thái gửi đến Trung Quốc , động tháp đáp trả một cách rõ ràng với việc Trung Quốc xây dựng cơ sở hải quân lớn ở đảo Hải Nam và trên đảo Hoàng Sa . Họ sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển Đông của họ và ngăn chặn các nguy cơ khác trong vòng 2,000 dặm bờ biển .


Hệ thống Bastion trang bị tên lửa đất đối hạm tầm bắn 300 km sẵn sàng diệt tàu 20.000 tấn

Từ động thái một số sỹ quan cao cấp Việt Nam thăm Hàng không mẫu hạm Hạm đội 7 của Hoa Kỳ cho thấy Việt Nam sẵn sàng chia sẻ và hợp tác quân sự với phía Mỹ , một động thái rất rõ ràng cho phía Trung Quốc thấy khả năng hợp tác của Hải quân Việt Nam và Hoa Kỳ là rất khả thi khi Trung Quốc ngày càng tỏ thái độ “hung hăng , bành trướng “ trên Biển Đông .


Saddock tên lửa đất đối hạm tầm bắn 500 km sẵn sàng diệt tàu 20.000 tấn

Theo tuần báo Jane’s Defense nhận định Việt Nam trong những năm gần đây rất chú trọng đến Hải Quân và đã rót khá nhiều vốn cho lực lực lượng hải quân .Hiện nay lực lượng hải quân Việt Nam có tới 5 triệu quân , phân bố từ Bắc Trung Nam với 120 tàu chiến các loại . Với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và không ngừng , Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển kinh tế và quốc phòng ngang nhau . Ngoài 6 tàu ngầm Kilo sắp nhận thì sau năm 2009 Việt Nam sẽ có hai soái hạm Gerpad loại tàu chiến hiện đại của Nga .

Thông số kỹ thuật

* Thủy thủ đoàn: 103
* Kích thước: dài 102m, rộng 13,1m và phần chìm 5,3m
* Trọng lượng rẽ nước: 2.100 tấn
* Hoạt động liên tục 20 ngày trong phạm vi 5.000 hải lý (ở tốc độ 10 knot)
* Tốc độ tối đa: 28 knot (52km/h)
* Công suất: 22.000 mã lực

Trang bị

* Bãi đỗ cho một trực thăng loại Ka-28 hoặc Ka-31
* 16 quả tên lửa điều khiển chống tàu chiến 4×4 Uran/3M24
* Một pháo 76mm AK-176M
* Ba hệ thống Palma
* Hai súng máy 14,5mm
* Hai ống phóng ngư lôi 533mm
* Một hệ thống 12 ống phóng tên lửa chống tàu ngầm RBU-6000.

Như vậy việc Hải quân Việt Nam không có tàu ngầm hạt nhân và Hàng không mẫu hạm , nhưng lực lượng cảu Hải quân Việt Nam đủ sức để đáp ứng được tất cả các yếu tố xảy ra trên Biển Đông .

Theo Fox của Hoa Kỳ lịch sử xung đột trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có năm 1988 . Phía Trung Quốc đã bị thiệt hại ít hơn Việt Nam , nhưng cũng được coi là một chiến thắng của họ . Với Hải quân Trung Quốc hiện nay họ mạnh hơn tất cả mọi thời đại trước đó . Nhưng nếu chiến sự xảy ra trong năm 2012 thì họ khó có thể dành được một chiến thắng nhanh chóng như trong thế kỷ 20 trước đó . Đó là lực lượng Trung Quốc phải đối mặt với tàu ngầm của Việt Nam , đối mặt với các vũ khí phòng vệ từ trong bờ cảu Việt Nam , lực lượng không quân hùng hậu được trang bị tên lửa diệt hạm … Nếu xung đột càng kéo dài khả năng xảy ra là Trung Quốc sẽ mất biển Đông .

Khả năng tác chiến của không quân nhân dân Việt Nam

Những điểm còn yếu của Hải quân Việt Nam

Mặc dù được nhiều báo chí phương Tây ca ngợi nhưng Hải quân Việt Nam vẫn còn nhiều điểm yếu theo Li Jie nhận xét trên thời báo toàn cầu .

Điểm yếu của Hải quân Việt Nam hiện nay là thiếu các trang thiết bị vũ khí mới và hiện đại , mặc dù đã và đang bổ sung các thiết bị chống ngầm và tàu ngầm nhưng vẫn còn nhiều điểm yếu và HQVN khó có thể thể đáp ứng được trong một cuộc chiến tranh hiện đại .

Sau chiến tranh Việt Nam như là một ‘sức mạnh thứ 3 trên thế giới “ về quân sự với các trang thiết bị vũ khí của Liên Xô và của Mỹ để lại . Tuy nhiên sau nhiều thập niên với sự hao mòn của trang thiết bị với thời gian và sự lạc hậu cảu trang thiết bị , khả năng chống đỡ của Hải Quân Việt Nam là rất hạn chế . Hải quân Việt Nam hiện nay sử dụng chủ yếu là các trang thiết bị khí tài từ thế kỷ 20 , sản xuất thì sản xuất được những vũ khí từ những năm 40 , số lượng tàu đóng mới chủ yếu là tàu vận tải , trang bị chỉ mới có hai tàu ngầm mini . Mặc dù đã được nhắc đến các trang thiết bị vũ khí mới nhưng vẫn còn một thời gian nữa để Hải quân Việt Nam làm quen với các trang thiết bị khí tài mới như tàu ngầm , trang thiết bị cảnh báo sớm , kiểm soát các hệ thống thông tin điện tử cao cấp ,…v.v hợp đồng tác chiến của Hải quân Việt Nam và khả năng chống lại các nguy cơ vẫn còn rất mong manh .


S-300 Việt Nam đã vào Nam

 

Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54

Tương tự như súng AK, dòng tăng T-54 là dòng xe tăng phổ biến nhất trên thế giới, cho đến đầu thế kỷ 21 rất nhiều nước trên thế giới vẫn còn dùng T-54/55 và vẫn còn tiếp tục cải tiến. Việt Nam là nước sử dụng T-54 từ rất sớm khi nó còn là một trong những xe tăng chủ lực đáng gờm nhất trên thế giới.

T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).


Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II.

T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan.


Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Syria năm 1970, nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970, T-54 tham chiến ở Việt Nam, Cambodia và Uganda.

Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.

KHẢ NĂNG

T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động, một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa, tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước, có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.

Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm”, áo giáp bán nguyệt lắp thêm, có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE).

Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn, động cơ tốt hơn, xích bằng các miếng cao su, và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS, ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển, và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư, Marconi Digital FCS của Anh, SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên, được gọi là Drozd, được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980, và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối), được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo, hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng, và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên – đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.

NHỮNG HẠN CHẾ

T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại, vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính, gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính, không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu, nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái, dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn, thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính, vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn, và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái, chỉ huy, và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc, họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1,4m (5,5m với ống thông hơi). Tuy nhiên, có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được, và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.


CÁC BIẾN THỂ

Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.

* T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).

* T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
* T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.

* T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.

* T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.

* T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.

* T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ, và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm, nhưng ở vị trí khác với T54.

* T-55AM có thêm vỏ yếm, một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.

* T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
* T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
* T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.
* T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
* T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.

T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.

 

Cục diện hải quân Mỹ – Việt – Trung trên biển Đông

Theo news.hnce Việt Nam bây giờ chỉ có 7 khu trục hạm nhỏ ,cùng 41 tàu phóng tên lửa và tàu tuần tra và hai tàu ngầm mini của Triều tiên . Hải quân Việt Nam “yếu thậm tệ “.Họ đã bắt đầu mua một số lượng lớn các vũ khí cao cấp của Nga , đã mua sáu tàu ngầm Kilo-class . Việt Nam dự kiến đến năm 2020, sẽ có tàu ngầm 20 Kilo-class, 5-7 tàu chiến tên lửa và 18-20 tàu tuần tra .v.v., để tạo thành một đội ngũ của 12 khu trục hạm nhỏ , 20 tàu ngầm Kilo-class , 60 tàu tên lửa tuần tra để hình thành một lực lượng “cá mập ở Biển Đông” .


Chiến hạm lớp Gepard của Việt Nam

Việt Nam sẽ có 6 tàu ngầm lớp Kilo

 

Việt Nam đang hình thành lực lượng “những cá mập ở Biển Đông”, sẵn sàng chiến tranh với Trung Quốc trên Biển Đông. Việt Nam dự kiến đến năm 2020 Trung Quốc sẽ không thể can thiệp vào Biển Đông Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam phải giữ được “hòa bình” thời gian này để xây dựng “các cá mập ở Biển Đông.” Việt Nam khi lực lượng “cá mập ” được xây dựng xong Trung Quốc sẽ bị giáng trả những đòn đáu đớn.


Mỹ có 12 tàu sân bay

Theo như phía Việt Nam tư duy hiện nay họ sẽ duy trì sự có mặt của Hàng không mẫu hạm của Mỹ trên Biển Đông cùng với lực lượng của Philippine và Malaysia , Trung Quốc sẽ phải chi phối lực lượng cho một cuộc chiến lớn với nhiều nước , lúc đó Việt Nam sẽ giáng cho lực lượng hải quân Trung Quốc những đòn thích đáng .

Hạm đội 7 của Hoa Kì

Tỷ lệ tàu chiến của Hoa Kỳ , Trung Quốc , Việt Nam năm 2009 : 205:139:50

Hiện nay, lực lượng tàu chiến chủ lực của Mỹ trên Biển Đông là 205 chiếc, Trung quốc lực lượng tàu chiến là 139, Hải quân Việt Nam có 50 tàu chiến chính. Tuy nhiên, tỷ lệ chất lượng các tàu là hoàn toàn khác nhau. Hoa Kỳ đã có 12 Hàng không mẫu hạm chạy bằng hạt nhân , Trung Quốc không; Hoa Kỳ 11 trực thăng vận tải , Trung Quốc không; Hoa Kỳ có 22 tàu tuần dương tên lửa , Trung Quốc không; Hoa Kỳ có 60 tàu khu trục tên lửa , Trung Quốc 27; Hoa Kỳ có 30 tàu khu trục nhỏ , Trung Quốc có đến 48; Hoa Kỳ có đến 14 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo , Trung Quốc chỉ có 3 .


Hạm đội Nam Hải, lực lượngg hải quân của Trung Quốc tại biển đông

Tỷ lệ tham chiến của lực lượng Trung Quốc và Việt Nam trên Biển Đông là 150:50. Sức mạnh của Hải quân Việt Nam và sau đó để tăng gấp đôi trong cuộc chiến trên Biển Đông với Trung Quốc. Vì vậy, Việt Nam đã được xác định để xây dựng “các cá mập trên Biển Đông”, sẽ nâng cao khả năng chiến đấu của Hải quân Việt Nam lên nhiều hơn gấp đôi, một đối trọng với hải quân Trung Quốc ở Biển Đông.

 

Sự kiện chiến hạm Gepard: Trung Quốc đánh giá hải quân Việt Nam

Vấn đề Biển Đông đã và đang trở nên nóng bỏng khi liên tiếp xẩy ra nhưng sự việc ảnh hưởng đến chủ quyền Biển Đông Việt Nam, do đó Việt Nam luôn luôn coi trọng xây dựng lực lượng hải quân, ngày 27 tháng 10, tại triển lãm Quốc tế hải quân tại Pháp lần thứ 21 ,Tổng giám đốc Cục kiến thiết The Nuduli Аму́ре Liên Bang Nga Shalapifu đã cho biết , Nga đang đóng cho Việt Nam chiến hạm Gepard -Con báo – 3.9 loại 11661,dự định sẽ bàn giao năm 2009 và 2010 nhưng nay thay đổi sẽ giao hai chiếc năm 2010 vì có những yêu cầu thêm từ phía Việt Nam .

 

Được biết, hợp đồng 4 chiến hạm Gepard giữa Nga và Việt Nam đã trải quan 3 năm đàm phán, đến cuối năm 2006 mới thành công. Sở dĩ Gepard được hải quân Việt Nam lựa chọn là do thế hệ đầu tiên của tàu này hiệu: ‘ Tatarstan ” (Trước kia đặt tên “Eagle”) chính thức được trang bị cho lực lượng hải quân Nga vào năm 2003 và hoàn toàn trở thành các tàu chỉ huy của các hạm đội trên biển. Hải quân Việt Nam cho rằng Gepard được hải quân Nga chấp nhận đưa vào trang bị và đầu tư lớn cho sản có thể thấy rằng những tính năng của thế hệ tàu chiến này được hải quân Nga thừa nhận. Phía Nga đã chấp nhận nhiều yêu cầu do phía Việt Nam đề
xuất, đồng ý tiến hành cải tiến cơ bản về các nền tảng quan trọng của thế hệ tàu chiến này, trong đó bao gồm tính năng tàng hình do được phủ một lớp hợp kim Nhôm-Magiê hấp thụ sóng Radars .

Theo tin tức từ các trang mạng của Nga, Gepard – 3.9 là phiên bản xuất khẩu của Nga dành riêng cho Việt Nam theo đơn đặt hàng, nếu như so sánh với tàu Tatarstan của hải quân Nga, ngoài tính năng tàng hình ra phía đuôi boong tàu còn được trang bị thêm trực thăng cơ động. Trọng lượng nổi trên mặt nước của Gepard là 2100 tấn, tốc độ của tàu là 20 hải lí, tàu có thể hoạt động độc lập trong 20 ngày.

Vũ khí
 

Tên lửa
• 4×4 ống phóng tên lửa đối hạm Uran-E (16 Kh-35 quả, tầm bắn 130km)
Pháo
• 1 pháo chính 76.2mm AK-176M
• Hệ thống pháo/tên lửa phòng không Palma, tầm bắn tối đa với tên lửa 8,000m, đối với pháo là 4,000m, được điều khiển bằng quang-điện và hỗ trợ dữ liệu từ radar.
• 2 súng máy phòng không 14.5mm
Chống ngầm
• 2 ống phóng kép cho ngư lôi 533mm
• Hệ thống phóng bom ngầm RBU-6000 với 12 ống
• Hệ thống kiểm soát hỏa lực chống ngầm Purga
 
Hệ thống kiểm soát hỏa lực
• Radar Laska có khả năng vừa sục sạo vừa bám các mục tiêu từ khoảng cách tới 30km, dùng để điều khiển pháo các cỡ từ 30 tới 76mm nhằm tiêu diệt các mục tiêu như máy bay, tên lửa và tàu nổi cỡ nhỏ. Nó được tích hợp với các kênh TV và hồng ngoại.
• Hệ thống SP-521 RakursTrực thăng
• Ka-28 ASW chống ngầm (hoặc Ka-31 mang radar chuyên nhiệm cảnh báo sớm) có hăng-ga và bãi đậu.
 
Hệ thống tác chiến điện tử
• Hệ thống MP-407E ECM system
• Hệ thống mồi bẫy PK-10 (4×10 ống phóng)
 
Thiết bị định vị
• Hệ thống định vị Gorizont-257 kết hợp cùng radar Gorizont-25
• Hệ thống EKNIS MK-54IS và GPS NT200D
 
Hệ thống quản lý thông tin tác chiến
• Hệ thống Sigma-E
Hệ thống nhận dạng
 • Thiết bị 67R IFF
Thông tin liên lạc
• Hệ thống thông tin liên lạc tự động Buran-6VE
Thiết bị điện tử
 • Radar mảng pha 3 chiều trinh sát mục tiêu trên không và trên biển Pozitiv-ME1 tầm trinh sát tối đa 150km trong điều kiện biển động cấp 3; có thể phát hiện mục tiêu bay có diện tích phản xạ radar 1m2 bay ở độ cao 1000m từ khoảng cách 110km; có thể phát hiện mục tiêu là tên lửa đối hạm có diện tích phản xạ radar 0,03m2 bay ở độ cao 15m từ khoảng cách 15km. Có thể bám cùng lúc 3-5 mục tiêu. Có thể phát hiện mục tiêu là tàu nổi có diện tích 10,000m2 từ ngoài đường chân trời.

Tàu chiến

Thông số kỹ thuật
Lượng choán nước đầy tải: 2,100 tấn
Kích thước ngoài (dài x rộng x mớn nước): 102.2 x 13.1 x 5.3m
Tốc độ:
– Tối đa: 28 hải lý/h
– Tốc độ hành trình: 18 hải lý/h
Tầm hoạt động ở tốc độ tiết kiệm: 5,000 hải lý
Dự trữ hoạt động: 20 ngày
Sử dụng vũ khí không hạn chế trong điều kiện biển động tới cấp 5
Động cơ chính: 2×11,000hp
Thủy thủ đoàn: 103 người .
Gepard- 3.9 có thể tác chiến độc lập hoặc làm nhiệm vụ phối hợp với hạm đội, tiến hành săn tìm, bám sát và tấn công tầu chiến địch trên mặt nước, tầu ngầm, và các mục tiêu trên không, và cũng thích hợp chi viện hoả lực cho các tàu hộ vệ, tuần tra, tàu phóng ngư lôi hoặc các lực lượng lục quân. Tàu chiến này sau khi được bàn giao cho Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể về hiện trạng còn thiếu hụt chiến hạm cỡ lớn, và năng lực tác chiến tổng hợp tầm xa của hải quân Việt Nam cũng được đề cao một cách rõ ràng. Việc Việt Nam có Gepard 3.9 sẽ tạo một làn sóng mới trong các thế hệ chiến hạm của Đông Nam Á .
Việc mua từ Nga chiến hạm tiên tiến Gepard- 3.9 ‘ chỉ là một bước đi nhằm tăng cường xây dựng hiện đại hoá trang bị của lực lượng hải quân trong ” kế hoạch phát triển lực lượng hải quân trong thế kỷ 21 ” của hải quân Việt Nam. Trên thực tế cùng với chiến lược quân sự quốc gia ” Bắc phòng thủ Nam tấn công ” do đó cũng chuyển biến theo hướng” lục quân phòng thủ hải quân tấn công “, trong những năm gần đây Việt Nam không ngừng tăng cường mạnh mẽ tiềm lực hải quân, cố gắng lợi dụng các trang bị hạng nhẹ tấn công nhanh hiệu quả hiện nay làm chủ chốt cho các lực lượng trên biển gần bờ, xây dựng lền tảng cho năng lực tác chiến xa bờ và năng lực tác chiến của một lực lượng hải quân hiện đại.Chính vì như vậy mà Việt Nam đã áp dụng rất nhiều biện pháp:
– Điều chỉnh kết cấu của lực lượng hải quân, trong đó có một biện pháp rất quan trọng đó là thành lập lực lượng bảo vệ giám sát bờ biển nhằm từ việc bảo vệ và giám sát bờ biển sẽ từng bước đảm nhận nhiệm vụ tăng viện trên biển, mà trong tình huống cần thiết sẽ kết hợp tác chiến với lực lượng hải quân. Hiện nay lực lượng hải quân lục chiến đã chiếm 2 phần 3 quân lực của hải quân trở thành lực lượng tác chiến chủ lực trên biển của hải quân Việt Nam.

Chiến hạm Petya mới nâng cấp
– Nâng cấp trang bị vũ khí, hiện nay lực lượng hải quân đã quản lí 4 quân khu duyên hải, tổng binh lực khoảng 50,000 người, trong đó có hơn 120 chiến hạm tác chiến các loại tuy vậy hiện nay tồn tại phổ biến vẫn là các loại chiến hạm đã cũ, trang bị vũ khí lạc hậu, và các tàu trọng tải nhỏ…và nhiều khiếm khuyết khác. Khó thể hài lòng được yêu cầu chiến lược mở rộng vùng biển của Việt Nam, thậm chí khó đáp ứng được nhiệm vụ chống buôn lậu, hộ tống, bảo vệ tầu cá, thị sát, tuần tra… càng ngày càng nhiều trên biển. Nhằm thay đổi trang bị lạc hậu hiện nay hải quân Việt Nam đồng thời với việc gia tăng mua sắm từ Nga đã không ngừng mở rộng các nguồn cung cấp vũ khí khác, như mua các tên lửa chống hạm, tầu tuần tra và nhiều thiết bị vũ khí khác từ một số nước như Pháp, Hàn Quốc, Ba Lan, Hungary, Ukraina…Trong việc mua vũ khí từ bên ngoài, trong đó phải kể đến 4 tầu phóng tên lửa ” Kiến trắng ” ( Molniya ) trang bị hệ tên lửa chống hạm ” tia chớp “, 2 tầu tuần tra cao tốc ” Con đom đóm ” trạng bị 48 tên lửa ” tia chớp ” chống hạm loại X – 35.

Tên lửa X – 35 có thể được trang bị trên xe di động
– Xây dựng căn cứ Hải quân mới, Việt Nam hiện nay có 119 cảng biển các loại, trong đó chủ yếu là các căn cứ Hải quân và hơn 10 cảng dùng cho quân sự. Nhưng bố trí tổng thể các căn cứ hải quân Việt Nam lại có đặc điểm, ” Trọng ở phía Nam và nhẹ ở phía Bắc “. Để Nam Bắc cân bằng trọng tâm phòng tuyến trên Biển, bộ quốc phòng Việt Nam bắt đầu từ năm 2007 đã xây dựng một cảng quân sự mới cỡ lớn tại thành phố trọng điểm của Bắc Bộ là Hải Phòng. Quân cảng Hải Phòng sau khi hoàn thành sẽ có khả năng cập cảng các tàu quân sự hạng nặng trọng tải 40,000 tấn và từ 40 đến 60 các chiến hạm và tàu ngầm. Trở thành căn cứ hải quân lớn thứ hai Việt Nam sau quân cảng Cam Ranh .

Và một tiết lộ khác từ truyền thông của Nga, trong vài năm gần đây phía quân đội Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng mạng Internes tin tức hoá trong hải quân. Liên tục nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Nga , Belarus … các hệ thống giám sát tầm gần và tầm xa, cảnh báo sớm . Mục đích là nhằm xây dựng mở rộng phạm vi phủ sóng hình thành tổ hợp mạng trinh sát giám sát bờ biển.

Việt Nam là nước quan trọng nhất đưa ra yêu sách về lãnh thổ của vùng biển Đông , các chuyên gia quân sự cho rằng trong hơn 10 năm trở lại đây việc Việt Nam điều chỉnh chiến lược quân sự, trọng điểm là tăng cường xây dựng lực lượng hải quân, mục đích là thực hiện hết khả năng có thể để giám sát và khống chế khu vực Biển Đông một cách hữu hiệu, kết hợp với các nước có cùng tranh chấp với Trung Quốc bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú tại vùng biển Đông. Đầu năm 1995 lúc đảm nhận chức vụ Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam ,ông Đỗ Mười đã tuyên bố: ” cần đặc biệt tăng cường việc xây dựng hiện đại hoá lực lượng Hải quân nâng cao năng lực tác chiến, tấn tốc đề cao việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam, lợi ích quốc gia và nguồn tài nguyên tự nhiên Biển “.

.Dựa vào những dự tính hiện nay của Hải quân Việt Nam, trong việc dựa vào tuyến đường biển trải dài từ Bắc vào Nam theo hình chữ ” S ” và lợi dụng vị trí tuyệt vời ở các đảo Trường Sa đang giữ chủ quyền , có thể hình thành một trận địa quốc phòng tương đối hoàn chỉnh. Hải quân Việt Nam hoàn toàn có khả năng dùng ” trọng điểm khống chế toàn diện “, lợi dụng ưu thế của địa hình để phát huy năng lực chiến đấu của các tầu chiến cỡ nhỏ tấn công nhanh, từ đó mà chống lại và cân bằng sức mạnh hải quân của khu vực và đối với các quốc gia khác.


Chiến hạm Molniya Việt Nam ở Trường Sa

Cùng với việc sử dụng một số trang thiết bị quân sự tiên tiến, những năm gần đây hải quân và không quân Việt Nam cùng phát triển một phương hướng, nhiều lần tiến hành tập trận quy mô lớn trên biển với các tình huống tập trận hợp đồng tác chiến của hải quân , không quân cùng lính thủy đánh bộ , chi viện cho Trường Sa, bảo vệ các căn cứ trọng yếu, nâng cao năng lực quốc phòng giữ vững chủ quyền biển đảo.

Đăng bởi: Mai Thành Bằng

nguon : http://tbmainam.wordpress.com/2010/08/27/c%E1%BB%A5c-di%E1%BB%87n-h%E1%BA%A3i-quan-m%E1%BB%B9-vi%E1%BB%87t-trung-tren-bi%E1%BB%83n-dong/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s